Chương 1 Trong chương này tác giả đã giới thiệu lý do thực hiện nghiên cứu dựa trên tình hình phát triển du lịch của huyện Long Điền và lỗ hổng của các nghiên cứu đi trước. Từ đó tác giả đã đưa mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp của nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU ĐI TRƯỚC Chương này tác giả tập trung giới thiệu các khái niệm, lý thuyết liên quan đến phát triển bền vững, du lịch bền vững, phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững. Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu các nghiên cứu đi trước, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cần nghiên cứu về phát triển du lịch của huyện Long Điền theo hướng bền vững.1 Khái niệm về phát triển bền vững Không có một khái niệm chung về PTBV (Valentin & Spangenberg, 2000) vì thế trong nghiên cứu của mình tác giả đưa ra một số khái niệm cụ thể như sau: Theo báo cáo của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (Ủy ban Brundtland, 1987) cho rằng PTBV là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro, Brazil đã mở rộng về khái niệm PTBV bằng cách tạo ra các nguyên tắc cho PTBV (Cottrell, van der Duim, Ankersmid, & Kelder, 2004) là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, đó là sự phát triển kinh tế (tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội (tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Năm 2002 quan niệm đầy đủ về PTBV được Liên hiệp quốc đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh (WSSD) về PTBV họp tại Johannesburg (Nam Phi) khẳng định PTBV là quá trình phát triển bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định trong mối quan hệ với thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. 9 Theo Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) đã đưa ra mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Trong thực tế, PTBV là một khái niệm động và đó là một quá trình mà sự hiểu biết của người dân thay đổi song song với sự phát triển của xã hội.
Trong giai đoạn đầu, PTBV tập trung chủ yếu vào các vấn đề về môi trường và kinh tế. Theo thời gian, ngày càng nhiều nhà nghiên cứu nhận ra rằng tiến bộ, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo và trao quyền cho cộng đồng địa phương (thể chế) là cốt lõi của sự phát triển bền vững (Ahn, Lee, & Shafer, 2002; Dymond, 1997).2 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững PTBV đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, cụ thể là trong lĩnh vực du lịch với định hướng du lịch nên được phát triển theo cách có lợi cho cộng đồng địa phương, tăng cường phát triển kinh tế địa phương, sử dụng được lực lượng lao động, nông sản và các kỹ năng truyền thống địa phương. Các cơ chế bao gồm chính sách và pháp luật cần được quy định cụ thể để đảm bảo lợi ích của cộng đồng địa phương (Hội nghị quốc tế của các Bộ trưởng môi trường về đa dạng sinh học và du lịch, 1997). PTDLBV là một trong những thành phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp đáng kể hoặc ít hoặc phủ nhận sự duy trì các nguyên tắc của sự phát triển trong một thời kỳ nhất định mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của thế hệ tương lai (Tossun, 1998).
Ở một khía cạnh cụ thể hơn, PTDLBV đòi hỏi sự quan tâm của các bên có liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên theo các cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp các sản phẩm du lịch đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, đa 10 dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế hệ mai sau (Hens, 1998). PTDLBV là quá trình phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai (Machado, 2003), đồng thời là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và cộng đồng địa phương trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. PTDLBV sẽ có kế hoạch quản lý nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, phát triển các hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ cuộc sống của con người (UNWTO, 2016).3 Khái niệm về Thể chế Theo Đào Hồng Minh (2013) nội dung thể chế thường được hiểu theo hai cách như sau: Theo cách hiểu thứ nhất, thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức, các quy định không chính thức hay những nhận thức chung có tác động kìm hãm, định hướng hoặc chi phối sự tương tác của các chủ thể chính trị với nhau trong những lĩnh vực nhất định. Các thể chế được tạo ra và đảm bảo thực hiện bởi cả nhà nước và các tác nhân phi nhà nước (như các tổ chức nghề nghiệp hoặc các cơ quan kiểm định).
Các quy tắc chi phối sự tương tác giữa các cá nhân hay tổ chức có thể mang tính chính thức hoặc không chính thức. Các quy tắc chính thức bao gồm hiến pháp, các bộ luật, điều luật, hiến chương, văn bản dưới luật… Trong khi đó các quy tắc không chính thức có vai trò mở rộng, chi tiết hóa hoặc chỉnh sửa các quy tắc chính thức và điều chỉnh hành vi của các chủ thể thông qua các chuẩn tắc xã hội (truyền thống, tập quán, những điều cấm kỵ…) hay các quy tắc ửng xử nội bộ. Vai trò của các thể chế thể hiện ở chỗ chúng tạo nên một khuôn khổ mà ở đó hành động của các chủ thể trở nên dễ đoán trước hơn, cho phép các chủ thể thiết lập các kỳ vọng và giảm thiểu các rủi ro trong quá trình tương tác với nhau. Theo cách hiểu thứ hai, thể chế là một cơ quan, tổ chức công với các cơ cấu và chức năng được định sẵn một cách chính thức nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động 11 nhất định áp dụng chung cho toàn bộ dân cư.
Đối với một quốc gia, thể chế chính trị bao gồm chính phủ, quốc hội và các cơ quan tư pháp. Mối quan hệ giữa các thể chế này được quy định bởi Hiến pháp. Theo định nghĩa của Douglas North, thể chế là những luật lệ của cuộc chơi trong xã hội (rules of the game). Nói chính xác hơn, đó là những ràng buộc do con người tạo ra để để điều chỉnh và định hình các tương tác của mình.
Vai trò chính của thể chế trong một xã hội là làm giảm tính bất trắc bằng cách cung cấp một cấu trúc cho hoạt động trong đời sống hàng ngày. Thể chế còn hướng dẫn sự tương tác giữa con người với người, khi chúng ta muốn chào bạn bè trên đường phố, lái xe, mua cam, mượn tiền, mở doanh nghiệp, chôn cất một người quá cố. Như vậy, cùng một giao dịch nhưng được thực hiện ở các nơi khác nhau sẽ phải theo những luật lệ khác nhau. Theo cách tiếp cận này, thể chế xác định và giới hạn tập hợp các lựa chọn của cá nhân.
Ba cấu thành quan trọng của hệ thống thể chế gồm có thể chế chính thức (thành văn, như luật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, như tục lệ và các quy tắc xử thế), và các cơ chế, biện pháp chế tài. Thể chế do con người sáng tạo, các ràng buộc thể chế có thể bao gồm cả những điều cấm kỵ con người làm, những điều con người có thể làm, hay nên làm. Theo cách này, thể chế là cái khung mà con người phải tuân theo khi tương tác với nhau. Không thể phủ nhận thực tế là thể chế không ngừng thay đổi, từ những tục lệ, quy tắc đạo đức, cho tới luật thành văn, hợp đồng giữa các cá nhân.
Đối với North, theo cách tiếp cận vi mô, sự thay đổi thể chế dần dần là do các tổ chức chính trị và kinh tế nhận thức rằng họ có thể làm tốt hơn bằng cách thay đổi khung thể chế hiện tại bằng cách nào đó. Nếu thị trường chính trị và kinh tế là hiệu quả, có nghĩa là không có chi phí giao dịch, thì mọi lựa chọn sẽ luôn hiệu quả. Nhưng các tác nhân luôn phải hành động dựa trên những thông tin đầy đủ, lựa chọn của họ không phải lúc nào cũng hiệu quả.1 Lý thuyết Phát triển bền vững Theo Ủy ban Liên hiệp quốc về phát triển bền vững (UNDPCSD, 1996a, 1996b) thì PTBV đi từ giả thuyết rằng loài người không tôn trọng, bảo toàn môi 12 trường- môi sinh, thiên nhiên bị hư hại, hệ sinh thái mất cân bằng, di sản môi trường- môi sinh suy thoái khiến loài người bị đe doạ, tình trạng đói nghèo trên thế giới nghiêm trọng, chênh lệch giàu nghèo giữa các nước gia tăng, tài nguyên thiên sút giảm và thiếu hụt.