Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giao lưu kinh tế - văn hóa ngày càng sâu rộng, nhu cầu du lịch của con người không dừng lại ở việc ngắm nhìn cảnh quan tự nhiên đơn thuần mà ngày càng hướng tới tìm hiểu các giá trị nhân văn, di tích lịch sử, phong tục tập quán và sinh hoạt lễ hội bản địa. Đối với Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng, tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những thành tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm du lịch đặc thù.

Hải Phòng là đô thị cảng biển trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 cấp quốc gia và là một cực trong tam giác động lực tăng trưởng kinh tế phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh). Về mặt lịch sử - văn hóa, địa phương sở hữu nền tảng lâu đời với các dấu tích cư trú của người Việt cổ liên tục qua các thời kỳ: di chỉ Cái Bèo (huyện Cát Hải) cách ngày nay khoảng 6.000 - 7.000 năm; di chỉ Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên) thuộc văn hóa Phùng Nguyên cách nay khoảng 3.500 năm; di chỉ Việt Khê (Thủy Nguyên) và Núi Voi (An Lão) thuộc văn hóa Đông Sơn cách nay khoảng 2.500 năm. Toàn thành phố có 542 di tích các loại, trong đó có 96 di tích cấp quốc gia và trên 100 di tích cấp thành phố.

Mặc dù hoạt động du lịch của Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2010 có bước phát triển với lượng khách tăng bình quân xấp xỉ 15%/năm và doanh thu tăng bình quân 18%/năm, công tác phát triển du lịch của thành phố trong nhiều năm lại chủ yếu tập trung vào tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch biển (Đồ Sơn, Cát Bà). Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, dày đặc chưa được đầu tư và khai thác tương xứng; hoạt động khai thác còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch chuyên sâu và thiếu sự gắn kết với các chương trình du lịch tổng thể. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm khai thác bền vững tài nguyên du lịch nhân văn tại Hải Phòng là vấn đề thực tiễn cấp bách.

Tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận bao gồm:

  1. Tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về du lịch, tài nguyên du lịch và vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn đối với hoạt động du lịch.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng khai thác nguồn tài nguyên du lịch nhân văn trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2006 - 2010.
  3. Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững trong việc khai thác các giá trị tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ phát triển du lịch Hải Phòng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị văn hóa tiêu biểu có khả năng khai thác phát triển du lịch tại Hải Phòng, bao gồm hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, công trình kiến trúc cổ, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công và các loại hình nghệ thuật dân gian.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính thành phố Hải Phòng (bao gồm khu vực nội thành và các huyện ngoại thành như Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên, Tiên Lãng, Kiến Thụy, Đồ Sơn, Cát Hải).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, đánh giá số liệu hoạt động du lịch giai đoạn 2006 - 2010, đồng thời phân tích định hướng phát triển đến năm 2015 và 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về khung lý luận, tác giả vận dụng các định nghĩa và khái niệm học thuật cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch:

  • Khái niệm du lịch theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma (1963): Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên với mục đích hòa bình.
  • Quan điểm của các học giả du lịch Trung Quốc và định nghĩa của I. Pirogionic (1985) về chức năng phục hồi thể lực, nâng cao nhận thức văn hóa của du lịch.
  • Căn cứ pháp lý nền tảng: Luật Du lịch Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2006), trực tiếp trích dẫn định nghĩa tại Điều 1 và các điều khoản liên quan đến khái niệm tài nguyên du lịch, tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn và di tích lịch sử - văn hóa.

Về phân loại tài nguyên du lịch nhân văn, văn bản hệ thống hóa thành các nhóm chính:

  • Nhóm di tích lịch sử - văn hóa: Di tích khảo cổ học, di tích lịch sử ghi dấu sự kiện chính trị, di tích danh nhân, di tích chiến công chống giặc ngoại xâm, di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động, di tích lưu niệm tội ác chiến tranh và các công trình kiến trúc nghệ thuật.
  • Di sản văn hóa thế giới: Phân tích theo tiêu chuẩn của UNESCO với dẫn chứng 14 di sản của Việt Nam được vinh danh tính đến tháng 11/2010.
  • Lễ hội truyền thống: Cấu trúc văn hóa bao gồm hai phần gắn kết chặt chẽ là phần lễ (nghi thức tế tự, tưởng niệm lịch sử thiêng liêng) và phần hội (trò chơi dân gian, sinh hoạt diễn xướng mang tính cộng đồng).
  • Các đối tượng gắn với dân tộc học, văn hóa làng nghề truyền thống và văn hóa ẩm thực.
  • Các thiết chế văn hóa - thể thao đương đại (bảo tàng, nhà hát, trung tâm hội nghị, triển lãm).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai trên thực tế gồm:

  1. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Khai thác tài liệu thứ cấp, văn bản pháp quy, các công trình khảo cổ học, báo cáo quy hoạch du lịch và số liệu thống kê ngành.
  2. Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Xem xét quá trình hình thành di tích, bối cảnh lịch sử của lễ hội và tiến trình tụ cư, khai hoang lập ấp của cư dân Hải Phòng.
  3. Phương pháp điền dã: Trực tiếp quan sát, khảo sát thực tế tại các điểm đến di tích, các làng nghề thủ công và không gian lễ hội trên địa bàn thành phố.
  4. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Xử lý số liệu lượng khách, doanh thu, công suất phòng và so sánh các mô hình tuyến điểm du lịch nội - ngoại thành.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Báo cáo thống kê và số liệu chuyên ngành của Sở Du lịch Hải Phòng, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010.
  • Các văn bản quy hoạch và chỉ đạo của Nhà nước và chính quyền địa phương: Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định số 1151/QĐ-UB ngày 11/7/1997 của UBND thành phố Hải Phòng phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 1996 - 2010; Quyết định số 142/QĐ-UB ngày 17/01/2008 của UBND thành phố Hải Phòng phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020.
  • Số liệu niên giám thống kê và tư liệu khảo cổ học tại địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về du lịch, tài nguyên du lịch

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về du lịch và cấu trúc tài nguyên du lịch, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tài nguyên nhân văn đối với sự phát triển ngành kinh tế du lịch:

  • Phân biệt tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn: Tài nguyên tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ động thực vật) tạo nên cảnh quan môi trường; tài nguyên nhân văn (văn hóa vật thể và phi vật thể do cộng đồng sáng tạo qua lịch sử) tạo nên chiều sâu trải nghiệm và bản sắc điểm đến.
  • Tác động kinh tế - xã hội của du lịch: Góp phần giải quyết việc làm (dẫn số liệu toàn cầu với hơn 234 triệu việc làm, chiếm tỷ lệ 1/11,5 công việc trên thế giới); dự báo mục tiêu của Tổng cục Du lịch Việt Nam đến năm 2015 đạt 7 - 8 triệu khách quốc tế, 32 - 35 triệu khách nội địa; đến năm 2020 đạt 11 - 12 triệu khách quốc tế, 45 - 48 triệu khách nội địa và doanh thu 18 - 19 tỷ USD.
  • Vai trò điều tiết tính mùa vụ: Tác giả chỉ ra rằng phần lớn tài nguyên du lịch nhân văn không phụ thuộc vào thời tiết hay mùa vụ tự nhiên, có khả năng khai thác ổn định quanh năm (khác với du lịch tắm biển mùa hè), qua đó giúp giải quyết tình trạng nhàn rỗi cơ sở vật chất và lao động du lịch tại Hải Phòng.

Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tại Hải Phòng

Chương 2 là phần nội dung thực nghiệm và phân tích thực tiễn quan trọng nhất của khóa luận, bao gồm các hợp phần:

Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hải Phòng:

  • Tự nhiên: Diện tích tự nhiên 1.520,7 km² (năm 2004); bờ biển dài 125 km (tính cả bờ biển quanh các đảo đạt 300 km); 5 cửa sông lớn (Nam Triệu, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình); mật độ sông ngòi 0,6 - 0,8 km/km². Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm trên 23,9°C, lượng mưa trung bình 1.600 - 1.800 mm/năm. Đảo Cát Bà có 620 loài thực vật bậc cao/745 loài thuộc 483 chi và 123 họ.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số 1.837.302 người (dân cư thành thị: 847.058 người - 46,1%; dân cư nông thôn: 990.244 người - 53,9%); mật độ dân số đạt 1.207 người/km². Về kinh tế, GDP năm 2010 gấp 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người đạt 1.742 USD/người; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 50,8% (năm 2005) lên 53% (năm 2010); công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 90% cơ cấu GDP thành phố.

Khảo sát hiện trạng tài nguyên nhân văn vật thể và phi vật thể:

  • Di tích lịch sử - kiến trúc tiêu biểu: Khóa luận lập hồ sơ mô tả kỹ thuật các điểm đến: Đền Nghè thờ nữ tướng Lê Chân (hậu cung dựng năm 1919, tiền bái dựng năm 1926); Tượng đài nữ tướng Lê Chân (tượng đồng cao 7,49m, tổng bệ cao 10,09m, nặng 19 tấn của họa sĩ Nguyễn Phúc Cường và Nguyễn Mạnh Cường); Khu di tích đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại xã Lý Học, Vĩnh Bảo (xếp hạng cấp quốc gia năm 1991, khuôn viên 9 hạng mục, tượng đá cao 5,7m nặng 8,5 tấn); Chùa Dư Hàng (Phúc Lâm tự) xây dựng thời Tiền Lê (980 - 1009), xếp hạng năm 1986; Đình Hàng Kênh (Nhân Thọ đình) dựng năm 1719, khuôn viên 6.000m², xếp hạng năm 1962; Đình Nhân Mục (xã Nhân Hòa, Vĩnh Bảo) xây dựng thế kỷ XVII, trùng tu năm 1941 bằng gỗ lim, cột cái đường kính 0,7m, cao 4,2m; Đình Quán Khái; Đình Kiền Bái (xếp hạng 1986).
  • Công trình kiến trúc đô thị: Nhà hát lớn Hải Phòng (xây dựng 1904 - 1912 theo phỏng mẫu nhà hát Pháp thời trung cổ, khán trường 400 chỗ); Cụm 5 Quán hoa trung tâm (xây dựng cuối năm 1944, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài, tổng diện tích 300m²); Bảo tàng Hải Phòng (xây dựng năm 1919, phong cách kiến trúc Gothique).
  • Văn hóa phi vật thể, lễ hội, làng nghề và ẩm thực: Phân tích lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (ngày 9/8 âm lịch, phục hồi năm 1990, 1 trong 15 lễ hội quốc gia); lễ hội Đền Trạng Trình (28/11 âm lịch, diễn ra trong 3 ngày); lễ hội Đua thuyền rồng trên biển Cát Bà (tháng 4 - 5 dương lịch, thuyền thoi dài 11m, rộng 1,5m, biên chế 22 - 26 tay chèo, đường đua 1km). Nghệ thuật múa rối nước Nhân Hòa, múa rối cạn Bảo Hà, hát đúm Thủy Nguyên, ca trù Đông Môn. Hệ thống làng nghề: tạc tượng Bảo Hà (Đồng Minh), đúc đồng gang Mỹ Đồng, dệt Cổ Am, thảm len Tràng Kênh, gốm đất Tiên Hội, làm đá Núi Voi, chiếu cói Nam Am, trồng hoa Đằng Hải, cau Cao Nhân, nước mắm Cát Hải, bánh đa Nông Xá. Các chợ truyền thống: Chợ Hỗ, Chợ Giải (họp mùng 2 tháng giêng), Chợ Giá. Ẩm thực: bánh đa cua, bún cá, bún om cá rô, nộm giá Cát Hải, nem cua bể, tu hài, sam biển.

Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh du lịch và các tour tuyến: Tác giả tổng hợp số liệu kinh doanh du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010 qua bảng thống kê chính thức của Sở Du lịch/Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng lượt khách du lịch Lượt khách 2.845.000 3.120.000 3.450.000 3.680.000 4.000.000
- Khách quốc tế Lượt khách 602.400 - - - 400.000
- Khách nội địa Lượt khách 2.242.600 - - - 3.600.000
Cơ sở lưu trú Cơ sở 198 201 212 214 252
- Số phòng Phòng 5.120 - - - 6.592
Tổng doanh thu Tỷ đồng 728,408 - - - 1.800,000

Toàn thành phố có 85 đơn vị lữ hành (15 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế). Khóa luận khảo sát chi tiết 5 tour du lịch nhân văn thực tế:

  1. Tuyến Du lịch nội thành (City tour): Bảo tàng - Nhà hát lớn - Quán hoa - Tượng đài Lê Chân - Đền Nghè - Chùa Hàng - Đình Kênh.
  2. Tuyến Bến Nghiêng - Đảo Dáu (Nam Hải Đại vương).
  3. Tuyến Đồ Sơn - Kiến Thụy - Tiên Lãng (thiết lập năm 2007): Bến tàu không số, Đồi Vạn Hoa, Đền Bà Đế, Từ đường họ Mạc, Chùa Trà Phương, Đền Mõ, Đền Gắm, Đình Cựu Đôi, Khu suối khoáng nóng Tiên Lãng (nguồn nước sâu 850m, nhiệt độ 54°C).
  4. Tuyến Hải Phòng - Vĩnh Bảo: Cụm di tích đình Nhân Mục, múa rối nước Nhân Hòa, đình Quán Khái, miếu Cựu Điện, làng nghề điêu khắc và miếu Bảo Hà (thờ Linh Lang Đại Vương).
  5. Tuyến Hải Phòng - Thủy Nguyên (thiết lập năm 2008): Chùa Lâm Động, Đình Kiền Bái, Chùa Mỹ Cụ, HTX mây tre Chính Mỹ, Đền thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc, xuôi sông Giá nghe ca trù Đông Môn.

Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân: Khai thác tài nguyên nhân văn còn mang tính sơ khai, tự phát, phụ thuộc nối tour từ các doanh nghiệp ngoài địa bàn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh); nhiều di tích bị xuống cấp nghiêm trọng; việc trùng tu ở một số đình, chùa làm sai lệch phong cách kiến trúc cổ ban đầu; làng nghề thiếu quy hoạch và chính sách đãi ngộ nghệ nhân; thiếu hướng dẫn viên/thuyết minh viên tại điểm; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, thành phố chưa có khách sạn 5 sao; kinh phí quảng bá - xúc tiến hạn hẹp và các sự kiện lễ hội chưa được tổ chức bài bản.

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn tại Hải Phòng

Dựa trên các phân tích thực trạng ở Chương 2, Chương 3 định hình phương hướng và các nhóm giải pháp mang tính chiến lược:

  • Bám sát định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hải Phòng đến năm 2020 (theo Quyết định số 142/QĐ-UB).
  • Chuyển trọng tâm khai thác thị trường khách: Ưu tiên khách có khả năng chi trả cao, lưu trú dài ngày; tập trung thu hút khách từ Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Indonesia) và từng bước mở rộng thị trường cao cấp từ châu Âu; duy trì nguồn khách nội địa từ Hà Nội, Quảng Ninh và các tỉnh phía Bắc.
  • Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, tranh thủ các dự án hạ tầng lớn: Tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, quy hoạch Sân bay Tiên Lãng và nâng cấp sân bay Cát Bi.
  • Giải pháp chuyên môn: Khoanh vùng bảo vệ di tích gắn liền quy chuẩn trùng tu khoa học, bảo tồn kiến trúc gốc; xây dựng quy hoạch bảo tồn làng nghề truyền thống và có cơ chế hỗ trợ nghệ nhân; chuẩn hóa công tác đào tạo nhân lực, bố trí đội ngũ thuyết minh viên tại các điểm di tích; nâng cao tính chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp lữ hành nội địa.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp tư liệu thực địa và số liệu ngành:

  • Hệ thống hóa toàn diện danh mục tài nguyên du lịch nhân văn Hải Phòng: Khóa luận không dừng lại ở mô tả khái quát mà ghi nhận các thông số cụ thể của 542 di tích, trong đó phân tích kiến trúc, lịch sử của hơn 10 di tích và công trình tiêu biểu (đền Nghè, đền Trạng Trình, đình Hàng Kênh, chùa Dư Hàng, đình Nhân Mục, đình Kiền Bái, Quán hoa, Nhà hát lớn...).
  • Phản ánh trung thực chỉ số tăng trưởng và năng lực cung ứng du lịch địa phương giai đoạn 2006 - 2010: Khóa luận cung cấp các mốc số liệu kiểm chứng như tổng lượng khách tăng từ 2,845 triệu lên 4,0 triệu lượt khách; doanh thu tăng từ 728,408 tỷ đồng lên 1.800 tỷ đồng; cơ sở lưu trú tăng từ 198 lên 252 cơ sở (với 6.592 phòng, trong đó 3.842 phòng đạt chuẩn 1 - 4 sao).
  • Phân tích chi tiết quy trình tổ chức và lộ trình của 5 tuyến du lịch chuyên đề nhân văn gắn với địa bàn nội và ngoại thành, chỉ rõ các điểm nghẽn trong vận hành thực tế của từng tuyến.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước đó: Tác giả đặt vấn đề chuyển dịch cơ cấu sản phẩm du lịch Hải Phòng một cách rõ nét, kiến nghị khắc phục tình trạng phát triển lệch sang du lịch biển - tự nhiên, đưa tài nguyên văn hóa - nhân văn trở thành giải pháp cốt lõi nhằm giải quyết bài toán tính mùa vụ của du lịch thành phố cảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Do giới hạn về mặt thời gian và kiến thức thực tế của sinh viên bậc cử nhân, khóa luận chỉ dừng lại ở việc khảo sát, đưa ra các vấn đề mang tính cơ bản và tổng thuật tại các di tích, làng nghề tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ 542 di tích trên địa bàn.
  • Khóa luận sử dụng các số liệu tổng hợp cấp ngành, chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học định lượng với mẫu khảo sát cụ thể (n=?) về mức độ hài lòng hoặc hành vi chi tiêu của du khách đối với từng điểm di tích nhân văn riêng biệt.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Triển khai nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sức chứa du lịch (carrying capacity) và tác động môi trường du khách tại các cụm di tích trọng điểm (như Khu di tích Đền Trạng Trình hay khu vực trung tâm Đồ Sơn).
  • Xây dựng mô hình liên kết vùng chi tiết giữa các tuyến du lịch nhân văn của Hải Phòng với các trung tâm di sản lân cận trong tam giác kinh tế (Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương).

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo học thuật rõ ràng:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, giảng viên và học viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học hoặc Lịch sử - Văn hóa địa phương.
  • Nội dung hữu ích:
    • Phần khảo tả chi tiết về lịch sử, niên đại, quy mô kiến trúc của các di tích tại Chương 2 là tài liệu tham khảo tốt cho việc biên soạn bài thuyết minh tuyến điểm du lịch Hải Phòng.
    • Thiết kế lộ trình và đánh giá thực trạng của 5 tuyến tour chuyên đề (City tour, Đồ Sơn - Kiến Thụy - Tiên Lãng, Hải Phòng - Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên) cung cấp cơ sở thực tế cho các doanh nghiệp lữ hành nghiên cứu tái cấu trúc sản phẩm du lịch văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận Hải Phòng có bao nhiêu di tích và tình trạng xếp hạng ra sao? Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa Thông tin/Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch được trích dẫn trong khóa luận, toàn thành phố Hải Phòng có 542 di tích các loại. Trong đó, có 96 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và trên 100 di tích được xếp hạng cấp thành phố.

2. Công trình Tượng đài nữ tướng Lê Chân tại trung tâm thành phố có quy chuẩn kỹ thuật như thế nào? Tượng đài được đúc bằng đồng, đặt tại công viên trung tâm thành phố (khu vực triển lãm). Thân tượng cao 7,49m, tổng chiều cao tính cả bệ là 10,09m, riêng phần lông chim trên đầu cao 0,7m; tổng trọng lượng tượng đạt 19 tấn. Đây là tác phẩm thực hiện theo mẫu dự thi của hai họa sĩ Nguyễn Phúc Cường và Nguyễn Mạnh Cường, do Công ty Đúc đồng Hải Phòng thi công.

3. Hoạt động kinh doanh du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010 ghi nhận những số liệu tăng trưởng cơ bản nào? Tổng lượng khách du lịch đến Hải Phòng tăng từ 2,845 triệu lượt (năm 2006) lên 4,0 triệu lượt (năm 2010), trong đó khách nội địa năm 2010 đạt 3,6 triệu lượt và khách quốc tế đạt 400.000 lượt. Doanh thu du lịch tăng từ 728,408 tỷ đồng lên 1.800 tỷ đồng. Quy mô lưu trú mở rộng từ 198 cơ sở (5.120 phòng) lên 252 cơ sở (6.592 phòng).

4. Tuyến du lịch "Đồ Sơn - Kiến Thụy - Tiên Lãng" đi qua những điểm tham quan cụ thể nào? Tuyến này được xây dựng từ năm 2007 dựa trên sự kế thừa của tuyến "Du khảo đồng quê", bao gồm các điểm: Bến tàu không số, Đồi Vạn Hoa, Đền Bà Đế (thờ Trịnh chúa phu nhân, thế kỷ XVIII) tại Đồ Sơn; Chùa Trà Phương, Đền Mõ, Từ đường họ Mạc tại huyện Kiến Thụy; Đền Gắm (cổ miếu Ngũ linh từ thờ Ngô Lý Tín), Đình Cựu Đôi (thờ Đào Quang thời Hai Bà Trưng) và Khu du lịch sinh thái suối nước khoáng nóng Tiên Lãng (khai thác ở độ sâu 850m, nhiệt độ nước 54°C).

5. Những nguyên nhân chủ yếu nào khiến du lịch nhân văn Hải Phòng chưa phát huy được tiềm năng? Tác giả phân tích các nguyên nhân cốt lõi: Nhận thức của các cấp ngành chưa đầy đủ; thiếu cơ chế thu hút đầu tư mang tính đột phá; quy hoạch du lịch triển khai chậm; kinh phí xúc tiến quảng bá hạn hẹp; công tác trùng tu tại một số đình, chùa chưa chuẩn xác làm biến dạng kiến trúc cổ; hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ (chưa có khách sạn 5 sao); thiếu đội ngũ thuyết minh viên tại chỗ và các doanh nghiệp lữ hành nội địa có năng lực cạnh tranh còn yếu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Minh đã phản ánh một cách có hệ thống nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú của thành phố Hải Phòng cả về mặt vật thể lẫn phi vật thể. Công trình cung cấp bức tranh thực trạng chân thực về hoạt động khai thác du lịch giai đoạn 2006 - 2010 qua các số liệu thống kê cụ thể và khảo sát 5 tuyến tour điển hình. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tư liệu thực tiễn đối với công tác nghiên cứu quản lý di sản và định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa bền vững cho địa phương.