Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quận Đồ Sơn (thành phố Hải Phòng) là trung tâm du lịch nghỉ mát biển hình thành từ hàng trăm năm, từng được người Pháp khảo sát địa lý, khí hậu và thổ nhưỡng để khai thác nghỉ dưỡng. Nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 22 km về phía Đông Nam, bán đảo Đồ Sơn sở hữu 22,5 km bờ biển cát mịn, hệ sinh thái đồi núi, rừng cây và quần thể di tích, lễ hội văn hóa đặc sắc. Du lịch biển được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực phát triển cho địa phương.

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Đồ Sơn mang tính chất thời vụ nghiêm trọng. Lượng khách du lịch chỉ tập trung đông đúc vào các tháng hè (từ tháng 5 đến tháng 8), dẫn đến tình trạng quá tải hạ tầng, công suất sử dụng buồng phòng đạt 100%, giá cả dịch vụ tăng cao và môi trường bị áp lực lớn. Ngược lại, vào các tháng còn lại trong năm, bãi biển vắng vẻ, các cơ sở lưu trú và nhà hàng hầu hết đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng, gây lãng phí cơ sở vật chất kỹ thuật và bất ổn việc làm cho người lao động.

Đề tài "Nghiên cứu tính thời vụ của hoạt động du lịch biển Đồ Sơn" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học cụ thể sau:

  1. Tổng quan cơ sở lý luận về tính thời vụ trong hoạt động du lịch.
  2. Khảo sát thực tế, xác định thời vụ du lịch tại Đồ Sơn; thu thập và phân tích các dữ liệu hoạt động kinh doanh du lịch cùng mức độ ảnh hưởng bất lợi của tính thời vụ đến địa phương.
  3. Xác định các nhân tố chính gây nên tính thời vụ du lịch tại Đồ Sơn.
  4. Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch biển tại bãi biển Đồ Sơn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tính thời vụ du lịch và các ảnh hưởng bất lợi của tính thời vụ đến hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Đồ Sơn.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Chủ yếu trong địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
    • Thời gian: Tập trung phân tích số liệu và hiện trạng hoạt động du lịch từ năm 2006 đến năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng khung lý thuyết chuyên ngành du lịch học và kinh tế du lịch để làm rõ bản chất của hiện tượng thời vụ:

  • Khái niệm và đặc điểm thời vụ: Tiếp cận định nghĩa của TS. Trần Văn Thông (thời vụ du lịch là sự biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung và cầu dịch vụ, hàng hóa du lịch dưới tác động của các nhân tố xác định) và TS. Trần Đức Thanh (hiện tượng hoạt động du lịch lặp lại đều đặn vào một số thời điểm trong năm). Tác giả phân tích tính chu kỳ của các giai đoạn: đầu mùa, chính vụ, cuối vụ và ngoài mùa (mùa chết).
  • Hệ thống nhân tố tác động: Khung phân tích gồm 6 nhóm nhân tố: Khí hậu; Thời gian rỗi (chế độ nghỉ phép năm, kỳ nghỉ hè của học sinh, nhóm người hưu trí); Phong tục tập quán (tập trung lễ hội mùa xuân); Hiện tượng quần chúng hóa trong du lịch; Điều kiện và tài nguyên du lịch; Sự sẵn sàng đón tiếp (cơ sở vật chất, khả năng cung ứng dịch vụ).
  • Khung phân tích tác động: Đánh giá đa chiều các ảnh hưởng tiêu cực và tích cực đến khai thác tài nguyên - môi trường, hiệu quả kinh doanh, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và sự hài lòng của du khách.

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận và tổng hợp tài liệu: Hệ thống hóa các khái niệm, quy luật và mô hình lý thuyết về thời vụ du lịch.
  • Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu báo cáo kinh tế - xã hội, thống kê du lịch từ Phòng Du lịch - Văn hóa và Thông tin quận Đồ Sơn, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006–2010.
  • Phương pháp điều tra thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trạng tài nguyên bãi tắm, cơ sở lưu trú, hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện lực, cấp thoát nước) trên địa bàn bán đảo Đồ Sơn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (phỏng vấn):
    • Khảo sát thực tế cường độ lao động đối với nhân viên phục vụ tại các cơ sở kinh doanh du lịch ($n = 50$ phiếu).
    • Khảo sát mức độ hài lòng và đánh giá của khách du lịch tại bãi biển Đồ Sơn ($n = 100$ phiếu).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về tính thời vụ du lịch

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận nền tảng về tính thời vụ trong ngành du lịch:

  • Quy luật phổ biến và đặc trưng: Thời vụ du lịch diễn ra ở mọi vùng du lịch nhưng có sự khác biệt về độ dài và cường độ tùy theo loại hình sản phẩm (du lịch nghỉ biển, chữa bệnh, lễ hội) và trình độ phát triển của điểm đến. Các điểm du lịch biển có chu kỳ thời vụ ngắn và độ lệch cung - cầu giữa chính vụ và trái vụ rất lớn.
  • Cơ chế tác động của các nhân tố: Phân tích chi tiết vai trò quyết định của điều kiện thời tiết - khí hậu (nhiệt độ nước biển, ánh sáng, gió bão), cơ cấu thời gian rỗi của xã hội (kỳ nghỉ của các gia đình có con nhỏ, chính sách nghỉ phép), tâm lý đám đông trong du lịch đại chúng và năng lực tổ chức dịch vụ tại điểm đến.
  • Hệ quả của tính thời vụ: Làm rõ tính hai mặt của thời vụ. Mặt tiêu cực gồm: sự quá tải hạ tầng, gia tăng rác thải và suy thoái môi trường mùa cao điểm; lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả khấu hao tài sản cố định thấp mùa thấp điểm; bấp bênh việc làm, giảm chất lượng phục vụ và xuất hiện tâm lý kinh doanh chộp giật, ép giá. Mặt tích cực gồm: tạo việc làm thời vụ, tăng đột biến nguồn thu ngân sách địa phương và tạo khoảng thời gian vắng khách để tự nhiên phục hồi hoặc tiến hành duy tu cơ sở vật chất.

Chương 2: Thực trạng tính thời vụ của hoạt động du lịch biển Đồ Sơn

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng tự nhiên, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và đánh giá chi tiết sự biến động cung - cầu tại quận Đồ Sơn:

1. Tổng quan tài nguyên và hạ tầng du lịch

  • Địa lý và tự nhiên: Quận Đồ Sơn có diện tích 4.237,29 ha, gồm 7 phường (Vạn Sơn, Ngọc Hải, Bàng La, Ngọc Xuyên, Vạn Hương, Minh Đức, Hợp Đức). Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa gió nồm (tháng 5–10) ấm áp nhiều mưa, mùa gió bấc (tháng 11–4) khô lạnh; bão tập trung từ tháng 6 đến tháng 9. Bờ biển dài 22,5 km gồm 3 khu bãi tắm và bãi tắm 295 (xóm Lặng). Hàng năm, các cửa sông lân cận (sông Cấm, sông Văn Úc, sông Bạch Đằng) đổ ra khoảng 17,3 triệu tấn bùn cát tạo đặc trưng nước biển đỏ phù sa.
  • Tài nguyên nhân văn: Hệ thống di tích lịch sử và lễ hội phong phú gồm tháp Tường Long (xây dựng năm 1058 thời Lý Thánh Tông), đình Ngọc - suối Rồng (trùng tu năm 1924, thờ thần Điểm Tước), Bến Nghiêng và Bến tàu Không số K15 (xếp hạng di tích quốc gia năm 2008), đảo Hòn Dáu (hải đăng xây dựng năm 1884 cao 67m, đền Nam Hải Thần Vương), biệt thự Bảo Đại (xây dựng năm 1928 trên đồi Vung), sòng bạc Casino (hoạt động từ năm 1995), lễ hội chọi trâu truyền thống (mùng 8/6 và 9/8 âm lịch), hội đua thuyền rồng (mùng 4 tháng Giêng và 1/5), hội đền Bà Đế.
  • Hạ tầng kỹ thuật: Trục đường Phạm Văn Đồng (đường 353) dài 20 km, rộng 43 m; tuyến tàu biển Đồ Sơn - Cát Bà khảo sát từ tháng 4/2011; trạm biến thế điện 110KV công suất 1800–3200KVA; nhà máy nước cấp từ trạm bơm sông He cách 10 km; hệ thống xử lý nước thải tại Vạn Bún và sông Họng.

2. Thực trạng kinh doanh dịch vụ và biến động doanh thu

Địa bàn Đồ Sơn có hơn 175 cơ sở lưu trú, nhà hàng, điều dưỡng với khoảng 3.000 phòng và 4.800 giường (khả năng đáp ứng lý thuyết khoảng 288.000 lượt khách/tháng). Tuy nhiên, tỷ lệ cơ sở lưu trú đạt chuẩn xếp hạng chỉ chiếm 33,9%.

Bảng: Thống kê một số khách sạn tiêu biểu tại Đồ Sơn

Tên khách sạn Địa điểm Số lượng phòng Xếp hạng tiêu chuẩn
Hoa Thành Đạt Khu 1 22 1 sao
Hóa Chất Khu 1 45 2 sao
Lâm Nghiệp Khu 1 74 2 sao
Công đoàn Đồ Sơn Khu 1 100 3 sao
Hải Âu Khu 2 50 2 sao
Hoa Phượng Khu 2 44 2 sao
Vạn Thông Khu 2 70 2 sao
Xây Dựng Khu 2 120 2 sao
Đồ Sơn (Resort) Khu 3 100 4 sao

Bảng: Công suất sử dụng buồng phòng trung bình theo các tháng trong năm

Tháng T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Số phòng sử dụng 390 400 550 850 1.900 3.200 3.150 2.600 1.200 650 390 390

Công suất sử dụng phòng bình quân cả năm chỉ đạt 40% - 50%. Trong mùa chính vụ (30/4 đến 2/9), công suất đạt 90% - 95% và vượt 100% vào các dịp cuối tuần hoặc ngày hội (đỉnh điểm ngày 8-10/2 âm lịch, 30/4, 1/5, 2/9, 9/8 âm lịch lượng khách đạt khoảng 18.000 người/ngày). Ngoài mùa vụ, công suất buồng phòng giảm sút xuống mức 20% - 25%.

Bảng: Doanh thu hoạt động du lịch quận Đồ Sơn giai đoạn 2006–2010

Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010
Doanh thu (tỷ đồng) 140 225 262 300 350
Tăng trưởng so với năm trước - +60,7% +16,4% +14,5% +16,7%

Bảng: Cơ cấu doanh thu du lịch theo từng tháng năm 2009 và 2010

Tháng Doanh thu 2009 (tỷ đồng) Tỷ lệ 2009 (%) Doanh thu 2010 (tỷ đồng) Tỷ lệ 2010 (%)
Tháng 1 1,260 0,42 1,470 0,42
Tháng 2 2,310 0,77 2,940 0,84
Tháng 3 18,170 6,06 21,810 6,23
Tháng 4 16,937 5,65 19,104 5,46
Tháng 5 39,424 13,14 43,664 12,47
Tháng 6 77,680 25,89 90,364 25,82
Tháng 7 73,887 24,63 87,000 24,86
Tháng 8 45,557 15,19 53,209 15,20
Tháng 9 20,150 6,71 24,559 7,02
Tháng 10 2,520 0,84 2,940 0,84
Tháng 11 1,050 0,35 1,470 0,42
Tháng 12 1,050 0,35 1,470 0,42
Tổng cộng 300,000 100,00 350,000 100,00

Doanh thu du lịch tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm (chiếm 70% - 80% tổng thu cả năm). Riêng hai tháng cao điểm (tháng 6 và tháng 7) chiếm tới 50,5% doanh thu năm 2009 (gần 152 tỷ đồng) và chiếm gần 60% doanh thu năm 2010 (trên 177 tỷ đồng).

3. Phân tích các tác động tiêu cực của tính thời vụ tại Đồ Sơn

  • Về môi trường và tài nguyên: Lượng rác thải sinh hoạt từ tháng 5 đến tháng 9 đạt 40 $\text{m}^3$/ngày, cao điểm lên tới 80–100 $\text{m}^3$/ngày (rác từ khách sạn, nhà hàng chiếm 75%). Trong 5 ngày diễn ra Liên hoan du lịch, lượng rác thu gom lên tới hơn 800 tấn. Trái vụ, rác thải chỉ còn khoảng 10 $\text{m}^3$/ngày. Năng lực thu gom, xử lý rác công cộng mới đạt khoảng 60%.
  • Về nguồn nhân lực: Toàn quận có khoảng 3.000 lao động du lịch (2.000 lao động thường xuyên, 1.000 lao động mùa vụ). Trình độ chuyên môn còn hạn chế (500 người có trình độ đại học/cao đẳng/trung cấp; 500 người có chứng chỉ sơ cấp/hành nghề). Khảo sát 50 nhân viên cho thấy độ lệch công việc rất lớn:

Bảng: Kết quả khảo sát số lượng khách phục vụ trung bình của nhân viên ($n = 50$)

Tiêu chí trong mùa vụ (khách/ngày) Số phiếu Tỷ lệ (%) Tiêu chí ngoài mùa vụ (khách/ngày) Số phiếu Tỷ lệ (%)
0 – 10 khách 2 4,0 1 – 5 khách 42 84,0
10 – 40 khách 25 50,0 5 – 10 khách 8 16,0
40 – 80 khách 22 44,0 10 – 20 khách 0 0,0
80 – trên 100 khách 1 2,0 20 – 30 khách 0 0,0
Tổng cộng 50 100,0 Tổng cộng 50 100,0
  • Về chất lượng dịch vụ và đánh giá của khách du lịch:

Bảng: Đánh giá mức độ hài lòng của du khách tại Đồ Sơn ($n = 100$)

Mức độ hài lòng Số phiếu Tỷ lệ (%)
Hài lòng 9 9,0
Tương đối hài lòng 35 35,0
Bình thường 48 48,0
Thất vọng 8 8,0
Tổng cộng 100 100,0

Tỷ lệ hài lòng và tương đối hài lòng của du khách chỉ đạt 44%, trong khi 48% đánh giá mức bình thường và 8% thất vọng do giá cả tăng cao, hiện tượng chèo kéo, chờ đợi dịch vụ ăn uống và vệ sinh môi trường bãi tắm chưa đảm bảo.

  • Về trật tự xã hội và xử lý vi phạm (số liệu năm 2010): Các lực lượng chức năng đã kiểm tra, xử lý 135 lượt cơ sở vi phạm an ninh trật tự (phạt 86.000 đồng), 756 trường hợp lái xe vi phạm (phạt 145.000 đồng), 56 trường hợp vi phạm trật tự công cộng (phạt 5.000 đồng), 16 trường hợp không niêm yết giá/hàng giả (phạt 16.000 đồng), thu lệ phí 29 hộ kinh doanh vỉa hè (thu 5.000 đồng) và xử lý 3 đối tượng ăn xin.
  • Về hạ tầng cung cấp điện, nước: Mùa cao điểm nhu cầu tăng vọt gây thiếu điện diện rộng trên lưới điện du lịch 6KV; nhà máy nước sông He chỉ cấp được khoảng 60% nhu cầu nước sạch, khiến các cơ sở kinh doanh và người dân phải khai thác nước giếng khơi và nước suối.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của tính thời vụ đến hoạt động du lịch Đồ Sơn

Theo bố cục và nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, Chương 3 tập trung đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp nhằm giải quyết mâu thuẫn cung - cầu và giảm thiểu tính thời vụ tại Đồ Sơn:

  • Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, khai thác các giá trị văn hóa - lịch sử (tháp Tường Long, Bến K15, đền Nghè, đền Bà Đế) và du lịch sinh thái đảo Dáu nhằm thu hút du khách ngoài mùa tắm biển hè.
  • Phát triển các sản phẩm bổ trợ và dịch vụ giải trí như khai thác tuyến tàu cao tốc Đồ Sơn - Cát Bà, bể bơi tạo sóng nước biển tại Khu 3, dịch vụ thể thao biển và các tuyến du lịch chuyên đề gắn với di tích Kiến Thụy - Đồ Sơn.
  • Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giá cả, an ninh trật tự, chấn chỉnh hiện tượng chèo kéo, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường bãi tắm.
  • Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng phục vụ và ý thức nghề nghiệp cho đội ngũ lao động du lịch, kết hợp chính sách sử dụng lao động linh hoạt giữa mùa vụ và trái vụ.
  • Nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống cấp nước sạch từ sông He và trạm biến áp điện nhằm đảm bảo cung ứng trong mùa cao điểm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa chi tiết mức độ tập trung thời vụ của du lịch biển Đồ Sơn qua các chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2006–2010:

  • Doanh thu du lịch Đồ Sơn tăng đều từ 140 tỷ đồng (năm 2006) lên 350 tỷ đồng (năm 2010), bình quân mỗi năm tăng 52,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, doanh thu tập trung từ 70% đến 80% vào 4 tháng mùa hè (tháng 5–8), cao điểm nhất là tháng 6 và tháng 7 (chiếm 50,5% năm 2009 và gần 60% năm 2010).
  • Khảo sát thực tế phản ánh rõ nét sự chênh lệch hoạt động: công suất buồng phòng mùa chính vụ đạt 90% - 95% (vượt 100% vào ngày lễ, cuối tuần), trong khi ngoài mùa vụ chỉ đạt 20% - 25%. Cường độ lao động chênh lệch lớn giữa mùa chính vụ (94% nhân viên phục vụ từ 10–80 khách/ngày) và ngoài mùa vụ (84% nhân viên chỉ phục vụ từ 1–5 khách/ngày).
  • Xác định tỷ lệ đánh giá của du khách đối với điểm đến: chỉ 44% khách du lịch đạt mức hài lòng hoặc tương đối hài lòng, 56% còn lại đánh giá bình thường hoặc thất vọng.
  • Chỉ rõ các nút thắt hạ tầng: công suất cấp nước sạch sông He mùa cao điểm chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu, tỷ lệ thu gom xử lý rác thải công cộng mới đạt 60%.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa toàn diện các dữ liệu thống kê chuyên ngành kết hợp khảo sát thực địa để phản ánh nghịch lý đầu tư và cung - cầu du lịch biển tại Đồ Sơn, từ đó làm căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp kéo dài mùa vụ du lịch.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô mẫu khảo sát thực địa còn ở mức giới hạn ($n = 50$ phiếu nhân viên và $n = 100$ phiếu khách du lịch), chưa phân tầng sâu theo từng phân khúc thị trường khách quốc tế hoặc khách lưu trú dài ngày.
    • Số liệu thống kê và đánh giá thực trạng giới hạn trong phạm vi quản lý hành chính của quận Đồ Sơn giai đoạn 2006–2010.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu liên kết vùng du lịch Đồ Sơn với quần thể Cát Bà, Vịnh Hạ Long và các vùng phụ cận để phân bổ luồng khách.
    • Đánh giá sâu hơn về hiệu quả kinh tế của các sản phẩm du lịch bổ trợ (du lịch MICE, du lịch lễ hội, vui chơi giải trí cao cấp) trong việc giải quyết tình trạng đóng băng hoạt động ngoài mùa hè.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Du lịch, Địa lý Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu tính thời vụ du lịch biển, phương pháp thiết kế bảng hỏi và tổng hợp dữ liệu doanh thu, công suất buồng phòng theo tháng.
  • Cán bộ quản lý điểm đến và doanh nghiệp du lịch tại địa phương: Cung cấp bức tranh thực tế về công suất sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, định mức tiêu thụ điện nước, phát sinh rác thải và mức độ hài lòng của du khách tại quận Đồ Sơn để phục vụ quy hoạch và xây dựng kế hoạch kinh doanh theo mùa.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời vụ du lịch chính tại biển Đồ Sơn diễn ra vào khoảng thời gian nào trong năm?
Thời vụ du lịch chính tại Đồ Sơn kéo dài từ ngày 30/4 đến ngày 2/9 hàng năm, trong đó tập trung cao điểm nhất vào các tháng 6, 7 và 8.

2. Tỷ trọng doanh thu du lịch vào các tháng cao điểm tại Đồ Sơn chiếm bao nhiêu % trong tổng doanh thu cả năm?
Doanh thu du lịch từ tháng 5 đến tháng 8 chiếm từ 70% đến 80% tổng doanh thu cả năm của quận. Riêng hai tháng 6 và 7, doanh thu đạt 50,5% (năm 2009) và gần 60% (năm 2010).

3. Khảo sát thực tế cho thấy mức độ hài lòng của du khách đối với du lịch Đồ Sơn như thế nào?
Kết quả khảo sát 100 khách du lịch ghi nhận: 9% hài lòng, 35% tương đối hài lòng (tổng nhóm hài lòng là 44%), 48% đánh giá bình thường và 8% cảm thấy thất vọng.

4. Lượng rác thải sinh hoạt tại Đồ Sơn trong mùa du lịch cao điểm biến động như thế nào so với mùa thấp điểm?
Trong mùa du lịch (tháng 5–9), lượng rác thải trung bình đạt 40 $\text{m}^3$/ngày, những ngày cao điểm lên tới 80–100 $\text{m}^3$/ngày. Trong khi đó, vào các tháng còn lại, lượng rác thải trung bình chỉ khoảng 10 $\text{m}^3$/ngày đêm.

5. Cơ sở lưu trú tại Đồ Sơn có quy mô ra sao và tỷ lệ đạt chuẩn xếp hạng là bao nhiêu?
Toàn quận có hơn 175 cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu điều dưỡng với khoảng 3.000 phòng và 4.800 giường. Tuy nhiên, tỷ lệ cơ sở lưu trú được xếp hạng và đạt tiêu chuẩn tối thiểu chỉ chiếm 33,9%.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Thuỳ Trang đã làm rõ bức tranh toàn diện về tính thời vụ của du lịch biển Đồ Sơn thông qua chuỗi dữ liệu thực nghiệm và thống kê giai đoạn 2006–2010. Kết quả nghiên cứu chứng minh sự mất cân đối sâu sắc giữa mùa vụ chính hè và mùa thấp điểm về doanh thu, công suất phòng, cường độ lao động cũng như sức ép lên môi trường và hạ tầng cấp thoát nước. Đây là công trình tổng hợp có giá trị tư liệu thực tiễn, đóng góp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và các đơn vị kinh doanh triển khai các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của tính thời vụ.