Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật lưu trú du lịch Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về lưu trú du lịch tại Nghệ An Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về lưu trú du lịch 8 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LƢU TRÚ DU LỊCH 1. Du lịch và lƣu trú du lịch 1. Khái niệm du lịch Du lịch là việc thực hiện một chuyến đi của con người, với nhiều mục đích cụ thể riêng biệt đến một nơi khác mà không phải để định cư và có sự trở về sau chuyến đi. Du lịch là đi để vui chơi, giải trí là việc thực hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có lưu trú qua đêm và có sự trở về.
Mục đích của chuyến đi là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội nghị khách hàng hay du lịch khen thưởng, hoặc nhằm mục đích kinh doanh. Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO - United Nations World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư [44]. Định nghĩa của UNWTO về du lịch lại hướng đến chủ yếu là các hoạt động của khách du lịch (du hành, tạm trú, tham quan, khám phá, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn) [44].
Các hoạt động này được quy định là phải diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, ở một không gian nhất định mà không phải là nơi mình định cư sinh sống, và không có mục đích kinh tế (kiếm tiền). Theo Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa du lịch ở hai khía cạnh [43], du lịch được hiểu theo cả hai khía cạnh: đi du lịch (của du 9 Luan van khách) và làm du lịch (của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch). Theo Điều 3, Luật Du lịch năm 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [32]. Định nghĩa của Luật Du lịch có quan điểm tương đồng với định nghĩa của UNWTO - đề cập đến hoạt động của khách du lịch, không đề cập đến hoạt động kinh doanh du lịch.
Tổng hợp các cách tiếp cận trên, du lịch bao gồm hai thành tố, đó là: Du lịch là một nhu cầu, hiện tượng xã hội: Sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của mỗi cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích thư giãn, phục hồi sức khỏe, nâng cao hiểu biết, thỏa mãn nhu cầu nhận thức về tự nhiên xã hội tại điểm đến. Du lịch là một ngành hay hoạt động kinh doanh: Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu phát sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú. Cách hiểu về du lịch như vậy có ý nghĩa thúc đẩy quan điểm phát triển đúng đắn về du lịch, tránh dẫn đến hiểu phiến diện về du lịch, chỉ nhìn nhận du lịch theo góc độ nhu cầu xã hội hoặc góc độ ngành kinh tế. Tóm lại, du lịch là một nhu cầu, hiện tượng xã hội và là một ngành hay hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
Khái niệm lưu trú du lịch Lưu trú nói chung là việc cá nhân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm ngoài nơi cư trú của mình. Lưu trú là việc cung cấp tiện nghi phục 10 Luan van vụ nhu cầu của khách nhất là chỗ ngủ và các thiết bị vệ sinh trong thời gian tạm xa nơi cư trú thường xuyên. Có thể hiểu lưu trú là việc cung cấp dịch vụ nghỉ qua đêm cho khách. Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch [32].
Lưu trú du lich là việc khách du lịch ở lại trong một thời gian nhất định tại cơ sở lưu trú du lịch, nhằm mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí. Đặc điểm của lưu trú du lịch: Một là, lưu trú du lịch là một yếu tố của hoạt động du lịch Lưu trú du lịch được xem là một yếu tố của hoạt động du lịch bởi lẽ hoạt động này ngoài việc cung cấp nơi lưu trú cho khách du lịch còn cung cấp cho khách du lịch các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác. Hoạt động này luôn gắn liền với các dịch vụ du lịch khác, xét cho cùng đây là một hoạt động kinh doanh dịch vụ, người kinh doanh nhắm đến lợi nhuận trong khi khách du lịch thì hướng đến thỏa mãn nhu cầu. Hai là, lưu trú du lịch là một trong các nhu cầu chính của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
Dưới góc độ kinh doanh du lịch hiện nay, lưu trú, vận chuyển và ăn uống vẫn còn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tỷ trọng du lịch Việt Nam. Mặt khác, tùy theo khả năng chi trả của du khách, hiện trạng và khả năng cung ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi du lịch cụ thể du khách có thể được hỗ trợ nghỉ lại tại các cơ sở lưu trú phù hợp. Ba là, lưu trú du lịch phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng rất mạnh đến việc kinh doanh lưu trú du lịch. Phần lớn dịch vụ du lịch mang tính chất cố định, không thể di chuyển vì các cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất vừa là nơi cung ứng dịch vụ như là địa điểm du lịch, nhà hàng khách sạn.
[19] còn khách du lịch lại phân tán khắp nơi. Các tài nguyên thiên nhiên, các nhà kinh doanh cơ sở lưu trú đều không 11 Luan van thể đem những giá trị của mình đến tận nơi cho khách hàng sử dụng mà ngược lại, muốn được tiêu dùng và hưởng thụ, khách du lịch phải rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến nơi có tài nguyên, các cơ sở kinh doanh du lịch. Như vậy, tài nguyên du lịch sẽ thu hút khách du lịch tới và lưu trú du lịch ở đó mới thành công. Giá trị và sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch sẽ quyết định du khách lưu trú du lịch.
Bốn là, Để thực hiện được dịch vụ lưu trú du lịch đòi hỏi chủ cơ sở lưu trú du lịch phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch theo quy định của pháp luật du lịch. Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch là một ngành nghề đặc thù, tác động đến nhiều lợi ích chung của cộng đồng cũng như tác động đến nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch khác. Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh cũng như hài hòa các quyền lợi khác như kinh tế, an ninh, trật tự xã hội, môi trường, danh lam thắng cảnh ., việc đăng ký kinh doanh lưu trú du lịch cần phải đảm bảo điều kiện cần thiết do pháp luật quy định. Chính vì thế mà tại khoản 1 Điều 49 Luật Du lịch đã quy định các điều kiện chung về kinh doanh lưu trú du lịch là phải có đăng ký kinh doanh lưu trú du lịch và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn, phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật đối với cơ sở lưu trú du lịch [32].
Đối với biệt thự du lịch và căn hộ du lịch phải bảo đảm yêu cầu tối thiểu về trang thiết bị và mức độ phục vụ theo tiêu chuẩn xếp hạng tương ứng đối với mỗi loại, hạng; đối với bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác phải bảo đảm trang thiết bị tối thiểu đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch. Pháp luật về lƣu trú du lịch 1. Khái niệm pháp luật về lưu trú du lịch Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống các quy phạm này tạo khuôn khổ cho hoạt động xã hội, chứa đựng 12 Luan van các quy tắc cấm đoán, bắt buộc chung, quy tắc trao quyền nhằm tác động, điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật về lưu trú du lịch là một nội dung quan trọng của pháp luật về du lịch, bao gồm những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các tổ chức, cơ quan nhà nước và cá nhân nhằm bảo đảm cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền của mình trong lĩnh vực du lịch nói chung và lưu trú du lịch nói riêng. Văn bản pháp luật cơ bản điều chỉnh vấn đề bình đẳng giới là Luật Du lịch năm 2017, đây là cơ sở pháp lí quan trọng để đảm bảo vấn đề lưu trú du lịch. Luật Du lịch có hiệu lực từ năm 2017 với 9 chương, 78 điều khoản [32]. Tại Chương V, Mục 3 Luật Du lịch đã quy định nội dung pháp luật về lưu trú du lịch gồm 6 nội dung, tạo điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của các chủ thể trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt nó góp phần trong việc đưa các quy định của pháp luật lưu trú di lịch vào việc quản lý nhà nước về du lịch của Đảng và Nhà nước [32].