CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH 1. Khái niệm về du lịch Theo các tài liệu nghiên cứu thì du lịch được định nghĩa như sau Theo điều 4 luật du lịch Việt Nam (2005): ’’Du lịch là các hoạt động có liên quan đến di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí nghỉ dưởng trong một khoảng thời gian nhất định’’ Tổ chức du lịch thế giới WTO đưa ra khái niệm về du lịch năm 1993: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ những cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình’’ “Du lịch được hiểu là hoạt động du hành đến nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống’’ (theo IUOTO : international Union of Official Travel Organisation) Định nghĩa về du lịch của Michael Coltman lại nêu khá đầy đủ về các thành phần liên quan tới hoạt động du lịch: “Du lịch là sự kết họp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch. Phân loại về du lịch Có rất nhiều tiêu chí để phân loại.
Hiện nay các chuyên gia về du lịch Việt Nam thường phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản sau đây: 9 a. Phân loại theo môi trường tài nguyên - Môi trường tài nguyên du lịch tự nhiên. Phân loại theo mục đích chuyến đi - Du lịch thuẩn túy (tham quan, giải trí, khám phá, nghỉ dưỡng, thể thao, lễ hội). Du lịch kết hợp - Du lịch kết hợp với (tôn giáo, nghiên cứu, chữa bệnh, hội nghị, hội thảo, thể thao, thăm người thân).
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động - Gồm du lịch quốc tế; du lịch nội địa; du lịch quốc gia; môi trường tài nguyên du lịch nhân văn. Những đặc trưng cơ bản của du lịch Mọi hoạt động du lịch nói chung đếu được thực hiện dựa trên những tài nguyên du lịch tự nhiên và những giá trị văn hóa lịch sử do con người tạo nên và sự kết hợp của các dịch vụ, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Dựa vào những yếu tố đó để hình thành nên sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng khám phá của khách du lịch, mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội. Du lịch có những đặc trưng có bản sau đây a.
Tính đa ngành Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo,. Thu nhập xã hôi từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau bằng hình thức cung cấp cho khách du lịch những sản phẩm dịch vụ khác nhau và đa dạng. Tính đa thành phần Biểu hiện ở đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào các hoạt động du lịch. Tính đa mục tiêu Thể hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa,nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế.
Tính liên vùng Tính liên vùng thể hiện qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm đến du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau. Tính mùa vụ Tính mùa vụ thể hiện hoạt động du lịch diễn ra trong khoảng thời gian tập trung với cường độ cao trong năm f. Tính chi phí Thể hiện ở chổ mục đích của chuyến đi du lịch của các du khách là để hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải mục đích kiếm tiền g. Tính xã hội hóa Thể hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia bằng nhiều cách khác nhau có thể là trực tiếp, gián tiếp vào các hoạt động du lịch.
Tính giáo dục cao về môi trường Qua du lịch có thể giáo dục con người về việc phải bảo vệ môi trường sống như bảo vệ chính chúng ta. Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là yếu tố quan trong cho thành công của du lịch cũng như tạo sự khác biệt trong cạnh tranh du lịch giữa các địa phương về độc đáo của một điểm đến du lịch. Khách du lịch Các định nghĩa khách du lịch Khách du lịch: là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Định nghĩa của Liên hiệp Quốc tế của các Tổ chức Chính thức về Du lịch(IUOTO): Năm 1950 IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế có 2 điểm khác với định nghĩa trên là: “Sinh viên và những người đến học ở các trường cũng được coi là khách du lịch” và “Những người quá cảnh không được coi là khách du lịch trong 2 trường hợp, hoặc là họ hành trình qua một nướckhông dừng lại trong thời gian vượt quá 24h, hoặc là họ hành trình trong khoảng thời gian dưới 24h và có dừng lại nhưng không với mục đích du lịch”.
Theo Đính và Hòa, 2004 thì khách du lịch là tất cả những người khởi hành đến giải trí, vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khỏe; những người khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các quan hệ về khoa học, ngoại giao tôn giáo, thể thao, công việc, những người khởi hành vì mục đích kinh doanh, học tập, những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển, thậm chí họ dừng lại trong khoảng thời gian its nhất 24 giờ. Điểm đến du lịch Một nhãn hiệu sản phẩm, một công ty, một quốc gia, một thành phố, một con người có thể được người ta nhớ đến vì một nét đặc biệt nào đó, hoặc có thể không được nhớ vì không có gì đáng nhớ. Trong kinh tế thị trường khách hàng bị tác động bởi vô số hoạt động truyền thông về hàng hoá dịch vụ. Các ấn tượng chỉ tồn tại khi nó tạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh, mang lại sự độc đáo và phù hợp với tâm lý khách hàng.
Theo nhà nghiên cứu Rubies, 2001 thì điểm đến du lịch được định nghĩa là một khu vực địa lý trong đó có chứa đựng một nhóm các nguồn lực về du lịch và các yếu tố thu hút, cơ sở hạ tầng, thiết bị, các nhà cung câng 12 cấp dịch vụ, các lĩnh vực hỗ trợ khác và các tổ chức quản lý mà họ tương tác và phối hợp các hoạt động để cung cấp cho du khách các trải nghiệm mà họ mong đợi tại điểm đến mà họ lực nhọn Bất cứ điểm đến du lịch nào cũng muốn có một hình ảnh đẹp, ấn tượng tốt trong lòng du khách. Hình ảnh của một điểm đến là sự đánh giá của khách du lịch về điểm đến dựa trên niềm tin, thái độ và quan điểm của họ. Trong suy nghĩ của du khách có thể bao gồm cả những ấn tượng tích cực và tiêu cực về điểm đến. Những ấn tượng này có thể là kết quả của những kinh nghiệm thực tế hoặc cũng có thể không.
Hình ảnh của điểm đến được tạo ra từ những tác động trực tiếp và gián tiếp như: Marketing trực tiếp, các phương thức giao tiếp Marketing khác và quan điểm của du khách về các yếu tố như tính an toàn, khả năng chi trả, khả năng tiếp cận và các đặc điểm hấp dẫn. Ngũ Hành Sơn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Đà Nẵng và Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch và có khả năng trở thành một điểm đến hấp dẫn trong khu vực. Vì lẽ đó, việc quản lý thành công điểm đến du lịch là một nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi sự tham gia tích cực của tất cả các thành phần có liên quan đến hoạt động du lịch ở điểm đến. Khả năng thu hút của điểm đến du lịch Hai nhà nghiên cứu là Hu và Ritchie (1993: 25) nhận định khả năng thu hút của điểm đến là “phản ánh cảm nhận, niềm tin, và ý kiến mà mỗi cá nhân có được về khả năng làm hài lòng khách hàng của điểm đến trong mối liên hệ với nhu cầu chuyến đi cụ thể của họ”.
Có thể nói một điểm đến càng có khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách thì điểm đến đó càng có cơ hội để được du khách lựa chọn. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Mayo và Jarvis (1981) cho rằng khả năng thu hút của điểm đến là “khả năng của điểm đến mang lại các lợi ích cho du khách. Các khả năng này phụ thuộc vào các thuộc 13 tính của điểm đến và cũng là những yếu tố thúc đẩy du khách đến với điểm đến (Vengesayi, 2003; Tasci et al. Ngũ Hành Sơn hay còn gọi là Non Nước nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 8km về phía đông nam, sát bên bờ biển Đông, bao gồm: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn.
Trong đó, Thủy Sơn là ngọn đẹp nhất. Nơi đây có nhiều hang động đẹp kỳ ảo, đồng thời là địa điểm có nhiều chùa, trong đó có 2 ngôi chùa nổi tiếng được sắc phong Quốc tự thời nhà Nguyễn là chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng. Đến với hang động Ngũ Hành Sơn, du khách sẽ bắt gặp nhiều bia đá cổ cách đây hàng trăm năm như: bia "Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật” được khắc năm Canh Thìn (1640); bia "Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật diệt lạc” khắc năm Tân Tỵ (1641)… Ngoài ra, còn có nhiều hiện vật có giá trị lịch sử đang được bảo tồn tại đây. Với những lợi thế về thắng cảnh, di tích lịch sử, chùa,.
Ngũ Hành Sơn luôn là điểm đến hấp dẫn cho mọi du khách khi đến thăm Đà Nẵng, khả năng cạnh tranh cao. Ngũ Hành Sơn được xếp vào một trong mười điểm du lịch tâm linh thu hút khách du lịch nhất tại Việt Nam hiện nay (theo Cẩm nang thông tin Kỷ lục Việt Nam – Nhà xuất bản thống kê năm 2013) 1.