Tổng quan nghiên cứu

Năm 2017, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi đón 13 triệu lượt khách quốc tế, đạt tốc độ tăng trưởng 29,1% và phục vụ 73,2 triệu lượt khách nội địa, mang lại tổng doanh thu trên 23 tỷ USD, đóng góp gần 9% vào GDP cả nước. Bước sang năm 2018, đà tăng trưởng tiếp tục duy trì với 15,6 triệu lượt khách quốc tế, khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Luật Du lịch năm 2017.

Trong bức tranh chung đó, tỉnh Lạng Sơn sở hữu 335 di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng, cùng hệ thống 2 cửa khẩu quốc tế, đón 2,64 triệu lượt khách mỗi năm với tổng doanh thu 910 tỷ đồng. Tuy nhiên, Khu danh thắng Nhất Nhị Tam Thanh – vùng lõi di sản cấp quốc gia có quy mô 59 ha tại thành phố Lạng Sơn – lại đang đối mặt với nghịch lý phát triển nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2014 - 2018, lượng khách đến Khu danh thắng chỉ duy trì ở mức 210.000 lượt/năm, doanh thu dao động từ 4 đến 5 tỷ đồng/năm. Chỉ số này chỉ chiếm khoảng 7,95% lượng khách và 0,55% tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh, phản ánh hiệu quả khai thác kinh tế thấp nhất trong số 39 điểm đến của địa phương. Tốc độ tăng trưởng du lịch của Lạng Sơn chỉ đạt khoảng 6%/năm về lượng khách và 6,2%/năm về doanh thu, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng trung bình cả nước là 27% lượng khách và 21,4% doanh thu.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ phương thức quản lý theo mô hình hành chính sự nghiệp bao cấp, sản phẩm du lịch đơn điệu, khai thác thô sơ và chưa xác định được giá trị tiền tệ của nguồn tài nguyên để thu hút đầu tư. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng giai đoạn 2014 - 2018 tại quần thể 59 ha bao gồm động Nhị Thanh, động Tam Thanh, núi Tô Thị và Thành Nhà Mạc. Nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu trọng tâm: lượng giá kinh tế tài nguyên du lịch bằng phương pháp hiện đại; xây dựng mô hình sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh cao; và đề xuất khung giải pháp chuyển đổi mô hình quản lý sang doanh nghiệp cổ phần cho giai đoạn 2019 - 2025, tầm nhìn 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế học tài nguyên môi trường và lý thuyết quản trị kinh tế điểm đến làm nền tảng phân tích. Trong kinh tế học du lịch, tài nguyên du lịch được xác định là hàng hóa công cộng có giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Để đánh giá toàn diện, nghiên cứu thiết lập khung phân tích dựa trên 5 tiêu chuẩn theo Luật Du lịch 2017: giá trị, sức chứa, mức độ hấp dẫn, phạm vi ảnh hưởng và khả năng khai thác.

Hiệu quả khai thác điểm đến được đo lường lượng hóa thông qua 4 chỉ số kinh tế cơ bản: số lượng khách du lịch, mức chi trả bình quân, tổng doanh thu và lợi nhuận sau thuế. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết chuyển đổi mô hình quản lý công sang mô hình doanh nghiệp cổ phần theo Luật Doanh nghiệp, nhằm tái cấu trúc cơ chế vận hành từ quản lý hành chính thụ động sang kinh doanh dịch vụ du lịch chủ động. Khung lý thuyết cũng tích hợp các khái niệm then chốt như: sản phẩm du lịch đặc biệt hóa, chuỗi giá trị du lịch, kinh tế ban đêm và giá trị văn hóa tâm linh Tam giáo đồng nguyên (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) hình thành từ thời Đốc trấn Ngô Thì Sĩ (1777 - 1780).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chi phí du lịch theo vùng (Zonal Travel Cost Method - ZTCM) để lượng hóa giá trị kinh tế phi thị trường của cảnh quan và xây dựng hàm cầu du lịch. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp 450 khách du lịch tại Khu danh thắng trong vòng 6 tháng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khoảng cách địa lý kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng để chia du khách thành các phân vùng xuất phát khác nhau dựa trên bán kính di chuyển.

Lý do lựa chọn phương pháp ZTCM bắt nguồn từ khả năng phản ánh chính xác hành vi tiêu dùng thực tế của du khách thông qua tổng chi phí chuyến đi $P = c + f + n + t + l$ (trong đó: $c$ là giá vé vào cổng, $f$ là chi phí ăn uống, $n$ là chi phí lưu trú, $t$ là chi phí cơ hội thời gian, $l$ là chi phí đi lại). Hàm cầu du lịch vùng được mô hình hóa qua phương trình $V_i = V(TC_i, POP_i, S_i)$, với $V_i$ là tỷ lệ viếng thăm trên 1.000 dân của vùng $i$, $TC_i$ là tổng chi phí du lịch, $POP_i$ là quy mô dân số và $S_i$ là các biến kinh tế - xã hội như thu nhập bình quân. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo tài chính, thống kê lượng khách giai đoạn 2014 - 2018 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn và Ban Quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự chênh lệch lớn giữa lượng khách và doanh thu thực tế. Trong giai đoạn 2014 - 2018, Khu danh thắng đón bình quân 210.000 lượt khách mỗi năm, chiếm 7,95% tổng lượng khách toàn tỉnh Lạng Sơn (2,64 triệu lượt), nhưng tổng thu từ vé chỉ đạt 4,5 tỷ đồng, chiếm 0,49% tổng doanh thu 910 tỷ đồng của toàn tỉnh. Mức chi tiêu bình quân của du khách tại điểm đến chỉ đạt khoảng 21.400 đồng/lượt, chủ yếu là tiền vé tham quan, phản ánh mức độ nghèo nàn của các dịch vụ bổ trợ.

Thứ hai, cơ cấu chi tiêu và thời gian lưu trú của du khách rất hạn chế. Kết quả khảo sát 450 mẫu cho thấy 82% du khách chỉ tham quan Khu danh thắng trong thời gian ngắn từ 1,5 đến 2 giờ rồi rời đi. Trong cơ cấu tổng chi phí chuyến đi của một du khách, chi phí đi lại và ăn uống chiếm tới 76%, chi phí lưu trú chiếm 18%, trong khi chi tiêu cho dịch vụ giải trí, mua sắm đồ lưu niệm và trải nghiệm văn hóa tại Khu danh thắng chỉ chiếm chưa đầy 6%.

Thứ ba, bộ máy quản lý sự nghiệp bộc lộ nhiều điểm nghẽn về hiệu suất tài chính. Ban Quản lý di tích tỉnh hiện vận hành với 39 nhân sự (16 biên chế và 23 lao động hợp đồng). Chi phí chi trả lương, phụ cấp và duy tu vận hành hành chính chiếm tới 68% tổng nguồn thu phí hàng năm, dẫn đến nguồn tích lũy tái đầu tư cho tôn tạo di tích chỉ còn khoảng 1,4 tỷ đồng/năm.

Thứ tư, kết quả ước lượng từ mô hình ZTCM chỉ ra rằng tổng giá trị kinh tế cảnh quan của Khu danh thắng Nhất Nhị Tam Thanh đạt mức thặng dư tiêu dùng ước tính trên 48 tỷ đồng/năm, cao gấp 10,6 lần so với doanh thu thực tế thu được qua hệ thống bán vé hiện hành.

Thảo luận kết quả

Thực trạng doanh thu thấp và sự lãng phí tài nguyên bắt nguồn từ tư duy quản lý đơn thuần mang tính bảo tồn hành chính, chưa phát triển các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. So sánh với bài học quốc tế tại sông Li Giang (Quế Lâm, Trung Quốc) – nơi chính quyền huy động khoản vay 100 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới để cải tạo môi trường nước và tổ chức show diễn thực cảnh với giá vé 180 đến 350 tệ (khoảng 650.000 đến 1.250.000 đồng) – có thể thấy Khu danh thắng Lạng Sơn hoàn toàn bỏ ngỏ mảng kinh tế dịch vụ ban đêm từ 18h đến 22h. Cảnh quan thiên tạo kỳ vĩ với dòng suối Ngọc Tuyền dài 570m chảy xuyên qua hang động và hệ thống 20 văn bia ma nhai cổ từ thế kỷ XVII chỉ dừng lại ở mức cho khách đi bộ ngắm cảnh thô sơ.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng doanh thu: trong khi du lịch cả nước tăng trưởng 21,4% và toàn tỉnh Lạng Sơn tăng 6,2%, thì Khu danh thắng chỉ đạt mức tăng trưởng doanh thu khiêm tốn khoảng 2,1%/năm trong giai đoạn 2014 - 2018. Đồng thời, bảng ma trận tương quan hồi quy đa biến khẳng định hệ số co giãn của cầu du lịch theo chi phí đi lại có giá trị âm lớn, chứng minh rằng khoảng cách địa lý và chi phí tiếp cận là rào cản chính, nhưng mức sẵn lòng chi trả cho các dịch vụ trải nghiệm chất lượng cao lại đạt mức tăng trưởng tiềm năng trên 35%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện tái cấu trúc tổ chức và chuyển đổi mô hình quản lý. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cần phê duyệt đề án chuyển đổi Ban Quản lý di tích tỉnh thành Công ty Cổ phần Quản lý và Khai thác Du lịch Nhị Tam Thanh trong giai đoạn 2020 - 2022. Cơ cấu vốn đề xuất gồm Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần chi phối để bảo đảm quyền kiểm soát di sản, và huy động 49% vốn từ các nhà đầu tư chiến lược tư nhân có năng lực vận hành du lịch chuyên nghiệp.

Thứ hai, triển khai kế hoạch đầu tư hạ tầng và phục hồi cảnh quan suối Ngọc Tuyền. Tổng nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2030 ước tính khoảng 180 tỷ đồng, được phân kỳ thành 2 giai đoạn: giai đoạn 2021 - 2023 bố trí 70 tỷ đồng để xử lý triệt để hệ thống thoát nước lưu vực 5,8 ha, cải tạo dòng chảy 570m suối Ngọc Tuyền và nâng cấp hệ thống chiếu sáng mỹ thuật trong động; giai đoạn 2024 - 2028 bố trí 110 tỷ đồng xây dựng trung tâm dịch vụ du khách, bãi đỗ xe thông minh và không gian diễn xướng văn hóa.

Thứ ba, phát triển chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù và kinh tế ban đêm. Đơn vị quản lý cần thiết kế sản phẩm trình diễn nghệ thuật ánh sáng 3D mapping kết hợp diễn xướng Then - sli lượn trong khung giờ 18h - 22h. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú trung bình của khách từ 1,8 giờ lên 1,5 ngày và nâng mức chi tiêu bình quân từ 21.400 đồng lên 180.000 - 250.000 đồng/khách vào năm 2025.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế chính sách và phân vùng bảo vệ di tích. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường cắm mốc ranh giới vùng I (bảo vệ nghiêm ngặt) và vùng II (vùng đệm phát triển dịch vụ) cho toàn bộ diện tích 59 ha theo quy định của Luật Di sản văn hóa, hoàn thành quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 trong năm 2021 nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các nhà đầu tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Lạng Sơn và các địa phương có di tích danh thắng): Sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng đề án chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp cổ phần, đồng thời hoàn thiện chính sách phân cấp quản lý cho 335 di tích trên địa bàn.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Khai thác số liệu phân tích thị trường, mô hình phân kỳ vốn 180 tỷ đồng và phương án phát triển sản phẩm kinh tế đêm (18h - 22h) để lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi cho các dự án xã hội hóa du lịch di sản.

Nhóm viện nghiên cứu, trường đại học và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Du lịch học: Tiếp cận phương pháp luận ứng dụng mô hình chi phí du lịch ZTCM và bộ dữ liệu khảo sát 450 mẫu thực nghiệm trong lượng giá kinh tế tài nguyên văn hóa - tự nhiên.

Nhóm ban quản lý các khu du lịch, di tích lịch sử cấp quốc gia trên cả nước: Tham khảo các giải pháp bảo tồn tài nguyên suối ngầm 570m, kiểm soát sức chứa sinh thái và các tiêu chuẩn nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ trên 500.000 lượt khách/năm.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của việc lượng giá kinh tế Khu danh thắng Nhất Nhị Tam Thanh là gì?

Phương pháp ZTCM giúp lượng hóa giá trị cảnh quan 59 ha thành giá trị tiền tệ thực tế đạt trên 48 tỷ đồng/năm. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương phê duyệt kế hoạch thu hút 180 tỷ đồng vốn đầu tư xã hội hóa, thay vì chỉ dựa vào nguồn thu vé 4 đến 5 tỷ đồng/năm như hiện nay.

Tại sao cần chuyển đổi mô hình Ban Quản lý di tích sang Công ty Cổ phần?

Mô hình sự nghiệp công lập hiện tiêu tốn 68% doanh thu để duy trì 39 nhân sự hành chính mà không tạo ra động lực kinh doanh. Việc chuyển sang công ty cổ phần giúp thu hút vốn tư nhân, linh hoạt phát triển dịch vụ từ 18h đến 22h và nâng mức chi tiêu bình quân của du khách từ 21.400 đồng lên trên 180.000 đồng.

Phương pháp nghiên cứu ZTCM trong luận văn có độ tin cậy như thế nào?

Luận văn tiến hành thu thập 450 phiếu khảo sát hợp lệ từ du khách thuộc các vùng địa lý khác nhau, tổng hợp đầy đủ chi phí đi lại, ăn uống và chi phí cơ hội thời gian. Mô hình hàm cầu kinh tế lượng được kiểm định thống kê chặt chẽ, bảo đảm độ tin cậy trên 95% trong việc ước lượng thặng dư tiêu dùng du lịch.

Giải pháp nào giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường suối Ngọc Tuyền?

Luận văn đề xuất dự án phân kỳ 70 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2023 để xây dựng hệ thống tách gom nước thải sinh hoạt cho toàn bộ lưu vực 5,8 ha, đồng thời nạo vét, thanh thải dòng chảy 570m trong hang động theo mô hình quản lý nguồn nước bền vững tương tự dự án sông Li Giang.

Làm thế nào để nâng cao thời gian lưu trú của du khách tại thành phố Lạng Sơn?

Cần liên kết không gian 19 điểm du lịch của thành phố với tuyến cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị cách 15 km, đồng thời đưa vào vận hành các tour trải nghiệm đêm, thưởng thức ẩm thực xứ Lạng và diễn xướng dân gian, kéo dài thời gian lưu trú từ 1,8 giờ lên 1,5 đến 2 ngày.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý, khai thác tài nguyên du lịch gắn với phương pháp định giá phi thị trường ZTCM cho một quần thể danh thắng cấp quốc gia rộng 59 ha.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn kinh tế khi doanh thu 4,5 tỷ đồng/năm của Khu danh thắng chỉ chiếm 0,49% toàn tỉnh Lạng Sơn dù đón tiếp 210.000 lượt khách, với thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,8 giờ.
  • Đề xuất mô hình chuyển đổi khả thi từ Ban Quản lý sự nghiệp gồm 39 nhân sự sang Công ty Cổ phần với tỷ lệ vốn nhà nước 51%, giúp tối ưu hóa chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả thương mại.
  • Xây dựng lộ trình phân kỳ vốn đầu tư 180 tỷ đồng giai đoạn 2021 - 2030, tập trung hồi sinh 570m dòng chảy suối Ngọc Tuyền và mở rộng không gian kinh tế dịch vụ ban đêm từ 18h đến 22h.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn và cộng đồng doanh nghiệp sớm đưa khung giải pháp của luận văn vào thực tiễn quy hoạch, tạo đòn bẩy đưa du lịch Lạng Sơn đạt mốc tăng trưởng trên 15%/năm trong giai đoạn tới.