Đánh giá và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa nước xã Cẩm Thanh, Hội An

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại rừng, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

73
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Du lịch sinh thái

1.2. Dựa vào cộng đồng

1.3. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

1.4. ÁP DỤNG DU LỊCH SINH THÁI

1.4.1. Áp dụng DLST trên thế giới

1.5. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

2.3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.3.3. Phương pháp điều tra bảng hỏi

2.3.4. Phương pháp quan sát hành vi cộng đồng

2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu

2.4. KHUNG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DLST TẠI RDN XÃ CẨM THANH

3.1.1. Sự thay đổi diện tích RDN Cẩm Thanh qua các năm

3.1.2. Sản phẩm du lịch khác

3.1.3. Nhận thức của người dân về môi trường và hệ sinh thái

3.2. SO SÁNH DLST RDN XÃ CẨM THANH VÀ KBTB CÙ LAO CHÀM

3.3. PHÂN TÍCH SWOT DLST XÃ CẨM THANH

3.4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DLST RDN XÃ CẨM THANH

3.4.1. Giải pháp về công tác tổ chức quản lý

3.4.2. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực

3.4.3. Giải pháp về xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch

3.4.4. Giải pháp kinh tế

3.4.5. Giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường

3.4.6. Giải pháp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (du lịch sinh thái) là một loại hình du lịch đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu. Định nghĩa về du lịch sinh thái được đưa ra lần đầu tiên bởi Hector Ceballos-Lascurain vào năm 1987, nhấn mạnh đến việc tham quan các khu vực tự nhiên với mục đích nghiên cứu và bảo tồn. Du lịch sinh thái không chỉ đơn thuần là hoạt động giải trí mà còn mang tính giáo dục, giúp du khách hiểu rõ hơn về môi trường và văn hóa địa phương. Tại Việt Nam, du lịch sinh thái được xem là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt tại các khu vực như Cẩm Thanh, nơi có rừng dừa nước phong phú. Việc phát triển du lịch sinh thái tại đây không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

II. Tình hình phát triển du lịch sinh thái tại Cẩm Thanh

Tại Cẩm Thanh, du lịch sinh thái đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm qua. Sự gia tăng lượng khách du lịch đến với khu vực này đã tạo ra nhiều cơ hội cho người dân địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Chất lượng dịch vụ và sự bền vững của các hoạt động du lịch hiện tại đang gặp phải nhiều vấn đề. Việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiênhệ sinh thái là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho du lịch tại đây. Các hoạt động du lịch cần được tổ chức một cách khoa học, kết hợp với việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

III. Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái

Để phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa nước Cẩm Thanh, cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả. Đầu tiên, cần tăng cường công tác tổ chức quản lý các hoạt động du lịch, đảm bảo rằng các hoạt động này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Thứ hai, việc đào tạo nguồn nhân lực cho các hướng dẫn viên du lịch là rất quan trọng, giúp họ có đủ kiến thức và kỹ năng để phục vụ du khách một cách tốt nhất. Thứ ba, cần có các chương trình xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch cho Cẩm Thanh, nhằm thu hút nhiều du khách hơn. Cuối cùng, việc bảo vệ tài nguyên và môi trường cần được đặt lên hàng đầu, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo tồn.

IV. Tầm quan trọng của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái

Cộng đồng địa phương đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch sinh thái. Sự tham gia của người dân không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho họ. Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường là rất cần thiết. Các chương trình giáo dục và đào tạo cần được triển khai để giúp người dân hiểu rõ hơn về lợi ích của việc bảo tồn hệ sinh tháitài nguyên thiên nhiên. Sự gắn kết giữa du lịch và cộng đồng sẽ tạo ra một mô hình phát triển bền vững, mang lại lợi ích cho cả du khách và người dân địa phương.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Du lịch sinh thái Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Mehico Hector Ceballos- Lascurain đưa ra vào năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan vớí ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. Tiếp đến Allen đã đưa ra một định nghĩa đề cập đến lĩnh vực họat động trách nhiệm của du khách, đó là: “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên hoang dã đã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường.

Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” (Hiệp hội du lịch sinh thái năm 1993). Căn cứ vào những đặc thù và mục tiêu phát triển mà mỗi quốc gia và mỗi tổ chức quốc tế đều phát triển những định nghĩa riêng của mình: - Định nghĩa của Nepan về du lịch sinh thái là loại hình du lịch để cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào [25]. - Định nghĩa của Malaysia thì cho rằng du lịch sinh thái là hoạt động du lịch viếng thăm một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc Luan van 5 đẩy công tác bảo tồn có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham gia dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế [17]. Năm 2001, theo Weaver nhận định có 3 tiêu chí trọng tâm được lặp lại trong hầu hết các định nghĩa, đó là: - Dựa vào thiên nhiên - Có tính bền vững - Có yếu tố về giáo dục hay nhận thức.

Năm 2002, Page và Dowling đưa thêm 2 yếu tố mà du lịch sinh thái nên có: - Đem lại lợi ích cho cộng đồng - Sự hài lòng, thỏa mãn cho du khách Du lịch sinh thái được xem là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa có giáo dục môi trường, đóng góp cho bảo tồn với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Do đó du lịch sinh thái được xác định là loại hình ưu tiên trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 2012) dưới góc độ bảo tồn thiên nhiên môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng [23]. Cộng đồng Cộng đồng (Community) là một khái niệm xuất hiện vào năm 1940 tại các nước thuộc địa Anh. Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện các công trình viện trợ qui mô lớn về kỹ thuật, phương pháp và tài chính trong thập kỷ 50-60.

Cộng đồng là nhóm người sống trong phạm vi thôn, bản, các xã, phường của khu vực nông thôn và thành thị, đặc biệt là các vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa. Cộng đồng có những điểm giống nhau, có chung các mối quan hệ nhất định và cùng chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố tác động và là đối tượng cần được quan tâm trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay [1]. Theo Sproule (1996) cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu vực địa lý, nhận biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm. Các thành viên Luan van 6 trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân.

Tất cả họ có thể thuộc về cùng một nhóm tôn giáo, chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp. Cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn. Các ý kiến, đề xuất tích cực từ cộng đồng là cơ sở để triển khai hoạt động bảo tồn tốt hơn, ngược lại các ý kiến tiêu cực hay chưa đúng là cơ sở để nhà quản lý điều chỉnh và áp dụng các phương thức phù hợp. Vì vậy, mức độ nhận thức và hành vi cộng đồng là các nhân tố quyết định đến sự thành công của các công tác bảo tồn.

Dựa vào cộng đồng Bảo tồn dựa vào cộng đồng là một phong trào nổi lên vào những năm 1980 thông qua các cuộc biểu tình leo thang và đối thoại tiếp theo với các cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng bởi những nỗ lực quốc tế để bảo vệ sự ĐDSH trên trái đất. Bảo tồn dựa vào cộng đồng là kết hợp cải thiện cho cuộc sống của người dân địa phương trong khi bảo tồn các khu vực lại thông qua việc tạo ra các Vườn quốc gia, nơi trú ẩn của động vật hoang dã [7], [22]. Dựa vào cộng đồng là dựa vào những gì cộng đồng đã, đang và sẽ có, những hiểu biết của họ về TNMT khu vực quản lý, về tình trạng khai thác, sử dụng nguồn lợi, về tình hình kinh tế, xã hội, về văn hóa truyền thống và tri thức bản địa của cộng đồng địa phương. Để dựa vào được cộng đồng, phải xây dựng cơ sở cộng đồng vững mạnh bằng cách nâng cao nhận thức, năng lực, củng cố và phát triển sinh kế thay thế bền vững [13].

Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) định nghĩa CEBT (Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng) là "Hình thức du lịch sinh thái nơi cộng đồng địa phương có sự kiểm soát chặt chẽ, tham gia vào phát triển và quản lý, và phần lớn nguồn thu lợi còn lại trong cộng đồng". Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): “Du lịch sinh thái cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”. Luan van 7 Còn theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh thái cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội.

Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ”. Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế TIES và Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc UNEP (2005): “DLST dựa vào cộng đồng (Community-Based Ecotourism) là loại hình tập trung vào sự tham gia của người dân địa phương trong việc quản lý DLST và phân phối lợi nhuận. Loại hình DLST này phải được tổ chức bởi người dân địa phương và vì người dân địa phương, gắn trách nhiệm của họ với việc quản lý, khai thác và bảo tồn các tài nguyên DLST tự nhiên và nhân văn bản địa. DLST dựa vào cộng đồng cũng hỗ trợ cho cho việc phân phối một cách công bằng lợi nhuận thu được từ DLST như là một nguồn thu nhập thứ hai.

Phần lớn lợi nhuận do DLST mang lại thuộc về địa phương. Các thành viên của cộng đồng dù không tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh du lịch cũng sẽ có cơ hội hưởng lợi phần nào thông qua các quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng hay do các hiệu quả kinh tế liên đới do DLST mang lại”. Ý tưởng đằng sau vế “dựa vào cộng đồng” của chiến lược môi trường là tạo cơ hội trao quyền cho cộng đồng, tăng cường sự tham gia của họ trong việc ra quyết định, nhưng cũng chỉ đơn giản là những điều này sẽ khuyến khích sự tham gia từ bản thân cộng đồng. Như vậy, du lịch sinh thái cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và du lịch bền vững.

Du lịch sinh thái cộng đồng nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi trường, du lịch và cộng đồng. ÁP DỤNG DU LỊCH SINH THÁI 1. Áp dụng DLST trên thế giới Phát triển du lịch sinh thái được nhiều quốc gia áp dụng trên thế giới và có thể kể đến như: Bhutan, Nepal, Bolivia, Braxin, Costa Rica, Ecuador, Ethiopia, Guatemala, Ấn Độ, Kenya, Kyrgyzstan, Lào, Lesotho, Mozambique, Peru, Nam Phi, Thái Lan, Uganda, Venezuela và Zambia…Hiệu quả của từng mô hình phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm của Chính phủ, điều kiện phát triển kinh tế xã hội và Luan van 8 cốt lỗi là nhận thức của cộng đồng tại địa phương. Chính phủ của các quốc gia này đều rất chú trọng đến phát triển DLST cộng đồng.

Họ tập trung nhiều nguồn lực để có thể ưu tiên đầu tư cho DLST cả về cơ chế chính sách lẫn hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất. Chính quyền đưa mối quan tâm hàng đầu về việc duy trì và bảo vệ môi trường, cân bằng cảnh quan sinh thái, duy trì và phát huy văn hóa bản địa, họ xem đây là những thách thức to lớn và cần có những chiến lược phù hợp để mà có thể giải quyết [27]. Từ những nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới, vào năm 2014 tổ chức UNWTO đã đưa ra các nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng cần phải dựa trên các nguyên tắc của du lịch bền vững: - Sử dụng tối ưu nguồn môi trường, duy trì các tiến trình sinh thái học chủ yếu và giúp bảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa hưởng. - Khía cạnh xác thực nền văn hoá - xã hội của cộng đồng địa phương, đảm bảo họ đã xây dựng, kế thừa văn hoá và giá trí truyền thống, đồng thời góp phần vào sự hiểu biết và thông cảm đối với các nền văn hoá khác nhau.

- Đảm bảo sự vận hành nền kinh tế lâu dài ổn định, cung cấp các lợi ích kinh tế - xã hội đến tất cả những người có liên quan nhằm phân bổ công bằng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa nước xã Cẩm Thanh, Hội An" của tác giả Lương Thị Kim Kiều, dưới sự hướng dẫn của TS. Kiều Thị Kính, tập trung vào việc phân tích tiềm năng và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái tại khu vực rừng dừa nước Cẩm Thanh. Bài viết không chỉ nêu rõ những lợi ích của du lịch sinh thái đối với cộng đồng địa phương mà còn đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc gìn giữ tài nguyên thiên nhiên.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của du lịch bền vững và phát triển du lịch tại Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam", nơi phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển du lịch xanh, hoặc bài viết "Luận án Tiến sĩ Kinh tế về Phát triển Bền vững Du lịch tại Thanh Hóa", cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển bền vững trong ngành du lịch. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại Làng Chuông, Thanh Oai, Hà Nội" cũng sẽ mang đến cho bạn những thông tin bổ ích về phát triển du lịch gắn liền với văn hóa và truyền thống địa phương.