Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế & Quản lý Du lịch (Khoa Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế) tiếp cận vấn đề phát triển du lịch sinh thái tại vùng miền núi miền Trung Việt Nam. Trong bối cảnh du lịch sinh thái ngày càng khẳng định vai trò là phương thức phát triển bền vững dựa trên thiên nhiên, giáo dục môi trường và hỗ trợ cộng đồng, huyện vùng cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế) sở hữu nhiều tiềm năng tự nhiên và văn hóa bản địa độc đáo. Nằm trên trục hành lang Quốc lộ 49 nối thành phố Huế với thị trấn A Lưới, xã Hồng Hạ có nguồn tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc với thắng cảnh suối Parle (Pâr Le), thác Pa Ring, cột đá thiêng A Doi cùng các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại suối Parle được xác định là nhu cầu cấp thiết nhằm tạo nguồn lực thúc đẩy kinh tế – xã hội địa phương, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân bản địa và giảm thiểu áp lực khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng tự nhiên.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch sinh thái suối Parle, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch đến địa phương.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái.
    2. Phân tích thực trạng phát triển du lịch sinh thái suối Parle và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch sinh thái suối Parle xã Hồng Hạ.
    3. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao cơ hội phát triển du lịch sinh thái suối Parle xã Hồng Hạ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến hoạt động phát triển du lịch sinh thái.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại suối Parle, xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa bàn chọn mẫu khảo sát gồm 4 thôn thuộc xã Hồng Hạ (Pa Ring-Cân Sâm, Cân Tôm, Pa Hy, A Rom) và 2 thôn thuộc xã lân cận Hương Nguyên (Mu Nú-Ta Rá, A Rí).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong giai đoạn từ tháng 09/2022 đến tháng 09/2023. Số liệu thứ cấp được thu thập cho giai đoạn 2019 – 2021 (thực hiện vào ngày 31/10/2022); số liệu sơ cấp được khảo sát trực tuyến từ ngày 29/10/2022 đến ngày 02/11/2022.
  • Phạm vi nội dung: Làm rõ thực trạng khai thác, đầu tư và đánh giá của khách du lịch đối với điểm du lịch sinh thái suối Parle, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm du lịch và du lịch sinh thái từ các nghiên cứu kinh điển và quy định pháp lý chuyên ngành:

  • Khái niệm du lịch từ góc độ người đi du lịch, người kinh doanh, chính quyền và cộng đồng sở tại; trích dẫn nhận định của Berneker.
  • Khái niệm du lịch sinh thái theo Hector Ceballos-Lascurain (1987), định nghĩa của cơ quan quản lý du lịch Úc (1994), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Hoa Kỳ (1998), định nghĩa của Honey (1999), văn kiện Hội thảo Chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam (1999), Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005 và năm 2017), Quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007) và Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES).
  • 12 nguyên tắc cơ bản trong phát triển du lịch sinh thái theo tài liệu của Lê Huy Bá (2009), nhấn mạnh vào giáo dục môi trường, bảo vệ hệ sinh thái, tôn trọng văn hóa bản địa, chia sẻ lợi ích kinh tế với cư dân và kiểm soát sức chứa điểm đến.
  • Hệ thống 4 nhóm tiêu chí đánh giá khu du lịch sinh thái: (1) Nhóm tiêu chí về tài nguyên (đa dạng sinh học, cảnh quan, bảo tồn văn hóa bản địa); (2) Nhóm tiêu chí về quy mô, quy hoạch và kiến trúc cảnh quan (mật độ xây dựng không quá 20% diện tích, kiến trúc hài hòa, đường mòn diễn giải); (3) Nhóm tiêu chí về kết cấu hạ tầng – kỹ thuật (đường đón tiếp rộng tối đa 7,5m, đường nội bộ tối đa 3,5m, hệ thống điện nước đi ngầm); (4) Nhóm tiêu chí về tổ chức quản lý và sự tham gia của cộng đồng.
  • Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch sinh thái: cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ, tài nguyên tự nhiên và nhân văn, năng lực tổ chức quản lý, trình độ nguồn nhân lực và vai trò tham gia của cộng đồng sở tại.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp từ các báo cáo chính thức của Huyện ủy A Lưới, UBND xã Hồng Hạ, số liệu phòng Thống kê, công chức văn hóa xã, các nghị quyết đại hội Đảng bộ địa phương, tài liệu nghiên cứu và bài báo khoa học liên quan.
  • Thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng hỏi trực tuyến gửi đến đối tượng khách du lịch đã trực tiếp trải nghiệm dịch vụ tại suối Parle; dung lượng mẫu điều tra đạt $N = 100$ phiếu. Nội dung khảo sát đo lường cảm nhận của du khách về công tác quảng bá, cơ sở vật chất, ẩm thực truyền thống, giá cả và chất lượng phục vụ.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Đối với dữ liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê, tính toán số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân nhằm đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế – xã hội qua các năm.
    • Đối với dữ liệu sơ cấp: Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (1: Hoàn toàn không đồng ý, 2: Không đồng ý, 3: Trung lập, 4: Đồng ý, 5: Hoàn toàn đồng ý), xử lý dữ liệu định lượng trên phần mềm Excel và SPSS 20.0.
    • Phương pháp phân tích ma trận SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của điểm đến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái

Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết về bản chất, nguyên tắc và các loại hình du lịch sinh thái (dã ngoại, leo núi, du lịch mạo hiểm, đi bộ trong rừng, quan sát chim, thăm bản làng dân tộc). Tác giả phân tích sâu mối quan hệ hữu cơ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương: người dân bản địa vừa là chủ thể nắm giữ tri thức sinh thái, bảo tồn văn hóa, vừa là bên thụ hưởng lợi ích trực tiếp để chuyển đổi sinh kế bền vững.

Về mặt thực tiễn, chương này nghiên cứu mô hình phát triển du lịch sinh thái tại hai địa phương tiêu biểu:

  • Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình): Khai thác hệ thống hang động và du lịch cộng đồng tại thôn Chày Lập, bài học về thu hút nguồn vốn đầu tư hạ tầng lớn kết hợp dự án quốc tế, đào tạo hơn 5.000 lao động trực tiếp và 12.000 lao động gián tiếp.
  • Khu du lịch sinh thái Suối Hoa Lan (Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa): Bài học về chuyển đổi mô hình từ làng chài truyền thống sang du lịch sinh thái do doanh nghiệp (Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú) đầu tư bài bản, bảo tồn hơn 100 loài hoa lan tự nhiên và khai thác giá trị di tích văn hóa Chăm cổ.

Từ đó, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm áp dụng cho suối Parle: hoàn thiện quy hoạch phân khu, thành lập ban quản lý chuyên trách, ban hành chính sách hỗ trợ cư dân dân tộc thiểu số tham gia cung ứng dịch vụ và lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở suối Parle – xã Hồng Hạ

Chương 2 trình bày chi tiết hiện trạng tự nhiên, văn hóa, kinh tế và hoạt động du lịch tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện địa lý và hạ tầng: Xã Hồng Hạ nằm ở phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế trên tuyến Quốc lộ 49, cách thành phố Huế 50 km và cách thị trấn A Lưới 25 km (hoặc 18 – 22 km tùy cung đường). Địa bàn có 99% số hộ sử dụng lưới điện quốc gia nhưng mới chỉ có 50% số hộ được tiếp cận nước sạch hợp vệ sinh.
  • Tài nguyên du lịch suối Parle: Suối Parle nằm cách Quốc lộ 49 khoảng 1 km đường mòn xuyên rừng. Suối có 2 bãi tắm tự nhiên lớn, bãi đá cao hơn 5m phục vụ hoạt động nhảy nước mạo hiểm; vịnh Cất Toom có diện tích hơn 100 $\text{m}^2$ (độ sâu trên 4m); phía trên cách 100m là vịnh Âm Bát với cảnh quan rừng nguyên sinh và các mạch nước ngầm giữ được độ trong suốt cả trong mùa mưa lũ. Ngoài ra còn có tuyến khám phá suối A Rưm dài hơn 1.400m.
  • Tài nguyên nhân văn: Địa bàn là nơi cư trú lâu đời của đồng bào dân tộc Tà Ôi (gồm các nhóm Tà Ôi, Pa Kô, Pa Hi với tổng dân số cả nước theo điều tra năm 2019 là 52.356 người) và dân tộc Cơ Tu; sở hữu các giá trị văn hóa đặc trưng như nhà Moong, nhà Gươl, nhà Rông, tục đi sim (Pộc xu), điệu múa Da dá, nghề dệt Dèng, đan lát thủ công, lễ hội A Da, lễ hội Ân Ninh và ẩm thực truyền thống (cơm lam, gà đồi nướng, rượu booh, canh súp sắn).
  • Điểm lưu trú Homestay Hồng Hạ: Được xây dựng thử nghiệm theo kiến trúc nhà Gươl truyền thống bằng vật liệu tre, gỗ, nứa, lá cọ tại độ cao 600 – 800m so với mực nước biển, quy mô trang thiết bị phục vụ 18 lượt khách/lần lưu trú.

Dữ liệu hoạt động kinh doanh và đầu tư du lịch tại xã Hồng Hạ được tổng hợp trong các bảng sau:

Chỉ tiêu hoạt động du lịch (Giai đoạn 2015 – 2020) Giá trị thực hiện
Tổng lượt khách tham quan du lịch Khoảng 15.950 lượt người
- Khách du lịch nội địa Khoảng 15.450 lượt người
- Khách du lịch quốc tế Khoảng 500 lượt người
Tổng doanh thu du lịch ước đạt Khoảng 2,0 tỷ đồng (tăng gấp 5 lần so với năm 2016)
Lao động tạo việc làm thường xuyên Khoảng 20 lao động địa phương
Thu nhập bình quân của lao động 4,0 – 5,0 triệu đồng/người/tháng
Cơ sở lưu trú homestay 01 điểm (quy mô 28 buồng phòng thiết kế)
Điểm du lịch sinh thái, tâm linh 03 điểm
Danh mục dự án đầu tư du lịch tại xã Hồng Hạ Kinh phí thực hiện (Triệu đồng)
Xây dựng 30 lán trại phục vụ du lịch 68
Cơ sở vật chất chòi đi Sim 77
Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng 7
Tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS & miền núi Đang triển khai theo chương trình
Khôi phục, phát triển các loại hình văn hóa phi vật thể Đang triển khai theo đề án

Đánh giá tổng hợp cho thấy hoạt động du lịch tại suối Parle còn bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế: đường dẫn vào điểm du lịch chưa được bê tông hóa; liên kết liên vùng còn lỏng lẻo; sản phẩm du lịch chưa đa dạng và thiếu sản phẩm chủ lực đặc thù; khách tham quan thường tự mang theo thực phẩm khiến nguồn thu dịch vụ bị hạn chế trong khi phát sinh lượng rác thải lớn; việc tổ chức lễ hội A Da lồng ghép vào Ngày hội Đại đoàn kết 18/11 hàng năm chưa phù hợp với tập quán truyền thống của đồng bào.

Chương 3: Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái suối Parle xã Hồng Hạ

Trên cơ sở phân tích ma trận SWOT và định hướng phát triển du lịch bền vững của huyện A Lưới, tác giả đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Triển khai quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng: Hoàn thiện quy hoạch chi tiết khu du lịch suối Parle; ưu tiên nguồn vốn bê tông hóa tuyến đường giao thông tiếp cận; xây dựng bãi đỗ xe đạt chuẩn, hệ thống nhà vệ sinh công cộng và biển chỉ dẫn bằng 3 thứ tiếng (Việt, Anh và tiếng dân tộc bản địa).
  2. Phát triển và đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Khai thác tour mạo hiểm và khám phá suối A Rưm (dài 1.400m); chuẩn hóa dịch vụ lưu trú homestay nhà Gươl; khôi phục và trình diễn các lễ hội truyền thống (Ân Ninh, Âr Pục, A Da đúng thời điểm tập tục); thương mại hóa các sản phẩm đặc sản nông nghiệp, dệt Dèng và đan lát thủ công.
  3. Tăng cường xúc tiến và quảng bá du lịch: Nâng cấp trang thông tin "Suối Parle – homestay Hồng Hạ" trên nền tảng mạng xã hội; phát hành tờ gấp, sách ảnh; tổ chức các đoàn khảo sát báo chí (Presstrip) và doanh nghiệp lữ hành nhằm kết nối tuyến tham quan từ thành phố Huế.
  4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ buồng phòng, chế biến ẩm thực, kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ và thuyết minh viên bản địa cho các hộ gia đình tham gia tổ du lịch cộng đồng.
  5. Mở rộng hợp tác, liên kết phát triển: Ký kết hợp tác với các công ty lữ hành tại Thừa Thiên Huế và khu vực miền Trung để xây dựng các tour ngắn ngày, dài ngày kết nối chuỗi điểm đến A Lưới (A Nôr, A Roàng, Hồng Hạ).
  6. Bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên nước: Thành lập đội thu gom, xử lý rác thải; đặt các thùng rác thân thiện môi trường dọc bờ suối; tăng cường kiểm soát, giữ gìn nguồn nước suối Parle và cảnh quan rừng đầu nguồn.
  7. Bảo đảm an ninh, an toàn du lịch: Lắp đặt rào chắn, biển cảnh báo nguy hiểm tại các vùng nước sâu quá 4m và vách đá nhảy trên 5m; trang bị đầy đủ áo phao cứu sinh và bố trí lực lượng cứu hộ thường trực trong mùa cao điểm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể:

  • Về mặt học liệu và số liệu thực tế: Cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chi tiết về thực trạng kinh doanh du lịch của xã Hồng Hạ giai đoạn 2015 – 2020 (15.950 lượt khách, doanh thu 2 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động với mức thu nhập 4 – 5 triệu đồng/tháng), cùng danh mục chi phí đầu tư các công trình phục vụ du lịch sinh thái tại suối Parle.
  • Về mặt phương pháp và ứng dụng: Ứng dụng mô hình đánh giá dịch vụ dựa trên khảo sát $N = 100$ du khách thông qua thang đo Likert 5 mức độ trên phần mềm SPSS, lượng hóa nhận định của khách hàng về cơ sở vật chất, ẩm thực, giá cả và văn hóa bản địa.
  • Về mặt giải pháp chính sách: Xây dựng 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, gắn liền cơ chế quản lý nhà nước của UBND huyện A Lưới và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế với quyền lợi kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế theo phạm vi nghiên cứu được văn bản thể hiện:

  • Dung lượng mẫu khảo sát sơ cấp ($N = 100$) còn ở mức khiêm tốn và chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức phát phiếu trực tuyến trong khoảng thời gian ngắn (từ 29/10/2022 đến 02/11/2022), chưa bao quát hết các phân khúc khách du lịch thực tế tại hiện trường theo từng mùa vụ.
  • Dữ liệu thứ cấp về doanh thu và hoạt động kinh doanh giai đoạn 2019 – 2021 chịu tác động gián đoạn bởi các yếu tố khách quan, một số phân tích định lượng chuyên sâu về cơ cấu chi tiêu của khách du lịch chưa được bóc tách chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trực tiếp với cỡ mẫu lớn hơn tại hiện trường, nghiên cứu xác định ngưỡng sức chứa sinh thái (carrying capacity) của lưu vực suối Parle và đánh giá hiệu quả kinh tế chuỗi giá trị du lịch cộng đồng liên xã tại huyện A Lưới.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Phát triển Nông thôn và Dân tộc học khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về du lịch sinh thái gắn với sinh kế đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.
  • Cán bộ quản lý văn hóa – xã hội, lãnh đạo chính quyền cấp xã và huyện vùng cao trong việc tham khảo khung 12 nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái, các tiêu chí quy hoạch phân khu chức năng (mật độ xây dựng $\le 20%$) và mô hình vận hành homestay nhà Gươl truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm du lịch suối Parle nằm ở đâu và có những đặc trưng cảnh quan tự nhiên nào?
Suối Parle nằm tại xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 50 km dọc theo Quốc lộ 49 và cách thị trấn A Lưới khoảng 25 km (hoặc 18 – 22 km). Điểm du lịch sở hữu 2 bãi tắm tự nhiên lớn, bãi đá cao trên 5m phục vụ nhảy mạo hiểm, vịnh Cất Toom rộng trên 100 $\text{m}^2$ (sâu hơn 4m) và vịnh Âm Bát ở thượng nguồn với rừng nguyên sinh bao quanh, nguồn nước suối trong mát và không bị đục ngay cả trong mùa mưa lũ.

2. Kết quả phát triển du lịch xã Hồng Hạ giai đoạn 2015 – 2020 đạt được những chỉ tiêu kinh tế nào?
Trong giai đoạn 2015 – 2020, tổng lượt khách tham quan đạt khoảng 15.950 lượt người (trong đó có 15.450 lượt khách nội địa và 500 lượt khách quốc tế). Tổng doanh thu ước đạt khoảng 2,0 tỷ đồng (tăng gấp 5 lần so với năm 2016). Hoạt động du lịch giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 20 lao động địa phương với mức thu nhập từ 4,0 đến 5,0 triệu đồng/người/tháng.

3. Khóa luận sử dụng phương pháp khảo sát dữ liệu sơ cấp như thế nào?
Tác giả đã thu thập thông tin sơ cấp bằng bảng hỏi trực tuyến gửi đến 100 khách du lịch trực tiếp sử dụng dịch vụ tại suối Parle từ ngày 29/10/2022 đến ngày 02/11/2022. Dữ liệu được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ và xử lý thống kê trên phần mềm Excel kết hợp SPSS 20.0.

4. Mô hình lưu trú Homestay Hồng Hạ được xây dựng với quy mô và đặc điểm kiến trúc ra sao?
Homestay Hồng Hạ được xây dựng theo mô hình nhà Gươl truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, sử dụng các vật liệu tự nhiên như gỗ, tre, nứa, mái lợp lá cọ. Nằm ở độ cao 600 – 800m so với mực nước biển, điểm lưu trú được trang bị hệ thống điện, quạt trần, chăn đệm đảm bảo phục vụ 18 lượt khách lưu trú/lần.

5. Những nguyên nhân chính nào gây khó khăn cho việc quản lý rác thải và nguồn thu tại suối Parle?
Theo phản ánh trong khóa luận, phần lớn du khách khi đến suối Parle đều tự chuẩn bị và mang theo thực phẩm có sẵn, dẫn đến nguồn thu từ dịch vụ ăn uống của tổ du lịch địa phương bị hạn chế, đồng thời để lại khối lượng rác thải lớn sau khi sử dụng, gây áp lực về thời gian và công sức thu dọn, xử lý môi trường cho các thành viên phụ trách.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Viết Tùng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và phân tích sâu sắc thực trạng khai thác điểm du lịch suối Parle tại xã Hồng Hạ, huyện A Lưới. Nghiên cứu đã làm rõ tiềm năng cảnh quan, bản sắc văn hóa đồng bào Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hi, Cơ Tu cùng các chỉ tiêu thực tế về lượng khách, doanh thu và việc làm giai đoạn 2015 – 2020. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn thiết thực nhằm thúc đẩy du lịch sinh thái suối Parle phát triển bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên với nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương.