phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn đƣợc chia thành 03 Chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 1.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại khu bảo tồn thiên nhiên 1. Khái niệm Theo IUCN định nghĩa “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển đƣợc khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, đƣợc quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994). Đặc điểm Khu bảo tồn thiên nhiên có những đặc điểm sau: - Là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao. - Có giá trị cao về khoa học, giáo dục, du lịch.
- Có các loài động thực vật đặc hữu hoặc là nơi cƣ trú, ẩn náu, kiếm ăn của các loài động vật hoang dã quý hiếm. - Đủ rộng để chứa đƣợc một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồn trên 70%. Phân loại Hệ thống phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên quốc tế của IUCN hiện hành đƣợc công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978. Hệ thống phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên gồm có: • Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict Nature Reserve/ Wilderness Area): Là khu đất và/hoặc biển có hệ sinh thái nổi bật hoặc tiêu biểu, có những nét đặc trƣng về sinh học hay địa chất học và/hoặc các loài chủ yếu dành cho nghiên cứu khoa học và/hoặc giám sát môi trƣờng.
• Khu dự trữ thiên nhiên (Strict Nature Reserve): là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nƣớc/biển đƣợc thành lập để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái chƣa hoặc ít bị biến đổi và có các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang bị đe doạ. 7 • Khu bảo vệ hoang dã (Wilderness Area): Là một khu đất có diện tích lớn và/hoặc vùng biển chƣa bị hoặc ít bị tác động, còn giữ đƣợc các đặc điểm và ảnh hƣởng của tự nhiên, đƣợc bảo vệ và quản lý nhằm mục đích bảo tồn các điều kiện tự nhiên. • Vƣờn Quốc Gia (National Park): Là vùng đất liền và /hoặc biển tự nhiên đƣợc hoạch định để bảo vệ tính toàn vẹn của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hôm nay và mai sau, không đƣợc khai thác hay chiếm đoạt làm tổn hại đến mục tiêu đã hoạch định và để làm cơ sở cho các hoạt động vui chơi, giải trí, khoa học, giáo dục, tinh thần của các du khách, tất cả các hoạt động này phải hài hoà giữa văn hoá và môi trƣờng. • Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/Natural Landmark): Là nơi có một hoặc nhiều đặc điểm văn hoá và tự nhiên có giá trị nổi bật hoặc độc đáo vì chúng qúy hiếm, có tính đặc trƣng giá trị thẩm mỹ hay văn hoá.
• Khu bảo tồn loài/Sinh cảnh (Habitat/Species Management Area): Là diện tích đất và/hoặc biển đƣợc khoanh vùng để tập trung quản lý nhằm duy trì các sinh cảnh và/hoặc đáp ứng các nhu cầu của các loài. • Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape): Là diện tích đất có biển và bờ biển, nơi qua bao năm tháng sự tƣơng tác giữa con ngƣời và tự nhiên đã tạo nên một vùng đất có tính đặc thù riêng cùng với nó là những giá trị văn hoá, sinh thái và/hoặc thẩm mỹ và thông thƣờng có tính đa dạng sinh học cao. Bảo vệ sự toàn vẹn của mối tƣơng tác lâu đời này là điều sống còn để bảo vệ, duy trì và phát triển khu bảo tồn này. • Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed Resource Protected Area): Là khu có các hệ sinh thái tự nhiên hầu nhƣ chƣa bị tác động, đƣợc quản lý để bảo đảm bảo vệ đƣợc lâu dài và duy trì tính đa dạng sinh học, đồng thời bảo đảm cung cấp một cách bền vững các sản phẩm tự nhiên và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.
Tính đến đầu năm 2020, Việt Nam có 168 khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm 59 khu dự trữ thiên nhiên, 33 vƣờn quốc gia, 13 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 54 8 khu bảo tồn cảnh quan đất liền hoặc biển, 9 khu dự trữ sinh quyển. Khu bảo bảo tồn thiên nhiên Đakrông thuộc phân hạng khu dự trữ thiên nhiên. Mục tiêu quản lý các KBTTN rất đa dạng, trong đó có các mục tiêu sau: • Nghiên cứu khoa học • Bảo vệ đời sống hoang dã • Bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen • Duy trì các dịch vụ môi trƣờng • Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hoá • Du lịch và nghỉ dƣỡng • Giáo dục • Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên • Gìn giữ các bản sắc văn hoá và truyền thống Việc sắp xếp một khu bảo tồn vào một phân hạng nhất định cần căn cứ vào mục tiêu quản lý chủ đạo của KBTTN đó. Chúng ta có thể thấy, việc phát triển du lịch cũng là một mục tiêu của các khu bảo tồn.
Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hầu hết các KBT đều thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái. Phát triển du lịch sinh thái 1. Khái niệm phát triển, du lịch, du lịch sinh thái 1. Khái niệm phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển đƣợc hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hƣớng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội… Theo quan niệm biện chứng, sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao.
Quá trình đó diễn ra dần dần, nhảy vọt đƣa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ, không phải lúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo đƣờng thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bƣớc lùi tạm thời, là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lƣợng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đƣờng xoáy ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại dƣờng nhƣ sự vật ban đầu nhƣng ở cấp độ cao hơn. Khái niệm du lịch Du lịch là một thuật ngữ thông dụng trên toàn thế giới. Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động, liên quan đến sự thay đổi vị trí của của con ngƣời. Có nhiều khái niệm “Du lịch” đƣợc đƣa ra: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization), du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhƣng không quá một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ. Trong Luật Du lịch năm 2017 định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Nhƣ vậy, có thể hiểu du lịch là việc di chuyển của con ngƣời ra khỏi nơi cƣ trú của mình, lƣu lại tạm thời (không quá một năm) và tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế, và văn hóa ngoài nơi ở của mình nhằm mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn. Khái niệm du lịch sinh thái Có nhiều định nghĩa khác nhau về Du lịch sinh thái đƣợc các chuyên gia, các tổ chức đƣa ra tùy theo quan điểm và định hƣớng của họ.
Tuy nhiên, hiện nay có một số định nghĩa đƣợc sử dụng rộng rãi: Hector Ceballos-Lascurain - một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 nhƣ sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt, nghiên cứu, trân trọng và thƣởng ngoạn phong cảnh và giới động thực vật hoang dã, cũng nhƣ những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) đƣợc khám phá trong những khu vực này”. 10 Năm 1994 nƣớc Úc đã đƣa ra khái niệm “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trƣờng thiên nhiên đƣợc quản lý bền vững về mặt sinh thái”. Theo Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ, năm 1998: “Du lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trƣờng, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phƣơng”. Một định nghĩa khác của Martha Honey (1999) trong cuốn Du lịch sinh thái và phát triển bền vững: “Du lịch sinh thái là du lịch hƣớng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thƣờng đƣợc bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất.
Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trƣờng, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho ngƣời dân địa phƣơng và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con ngƣời”. Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The International Ecotourism society), “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi trƣờng và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phƣơng”.