CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học 1. Biến đổi khí hậu 1. Thời tiết - khí hậu Thời tiết và khí hậu là hai khái niệm hoàn toàn độc lập với nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên một số người cho rằng thời tiết và khí hậu là những khái niệm cùng để chỉ chung một hiện tượng tự nhiên.
Tuy nhiên, thực tế hai khái niệm này không phải là một mà nó có sự phân biệt với nhau bởi yếu tố thời gian và phạm vi không gian. Thời tiết được hiểu như là trạng thái của khí quyển ở tầng mặt đất và những tầng thấp hơn, sự thay đổi của các trạng thái này do các tác nhân lý học trong không gian gây ra sự thay đổi của thời tiết theo thời gian. Trong khi đó, khí hậu là tập hợp các đặc trưng khí quyển cho từng địa phương và phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh địa lý của vùng đó bao gồm các yếu tố độ cao, địa hình, vị trí địa lý… và khí hậu có đặc tính ổn định cao. [10] Theo tổ chức Liên minh dự báo thời tiết quốc tế thì thời tiết là trạng thái nhất thời của khí quyển tại một địa điểm nhất định, được xác định bằng các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, hướng gió, lượng mưa… Khí hậu là tình trạng trung bình nhiều năm của thời tiết (thường là 30 năm) tại một vùng nhất định.
[14] Như vậy, mặc dù có những cách hiểu khác nhau về thời thiết và khí hậu, song các khái niệm đều chỉ chung được rằng: Thời tiết là tình trạng khí quyển nhất thời, không có tính ổn định theo thời gian, còn khí hậu là trạng thái trung bình nhiều năm của thời tiết và có đặc tính ổn định cao. Phạm vi của thời tiết được xem xét nhỏ hơn sơ với phạm vi của khí hậu. Sở dĩ cần phải làm rõ vấn đề này vì chúng ta cần phân biệt được các hiện tượng dị thường của thời tiết và biến đổi khí hậu của một vùng. Xét một cách đơn giản, nếu một vùng nào đó có một cơn bão lớn thì đó là hiện tượng dị thường của thời tiết, nhưng nếu tần suất xuất hiện cơn bão đó xuất hiện nhiều hơn mức bình thường thì đó là những biểu hiện của biến đổi khí hậu.
Khái niệm biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu hiện nay đã trở thành một vấn đề toàn cầu, không riêng gì của bất kỳ một quốc gia hay một thể chế xã hội nào, bởi vì ảnh hưởng của biến đổi khí hậu hết sức rộng lớn và tác động vào nhiều hoạt động kinh tế xã hội cũng như đe dọa đến sự tồn vong của nhân loại. Báo cáo về phát triển con người năm 2007/2008 của Liên hiệp quốc đã khẳng định: “Biến đổi khí hậu sẽ là một trong những yếu tố định hình triển vọng phát triển con người trong suốt thế kỷ 21”. Vậy biến đổi khí hậu là gì? Biến đổi khí hậu là chỉ những sự thay đổi tính chất, trạng thái của khí hậu bởi các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người làm sự thay đổi khí quyển. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu là: - Sự nóng lên của trái đất và bầu khí quyển.
- Mực nước biển dâng cao do hiện tượng băng tan. - Sự thay đổi về chất lượng và thành phần khí quyển có hại cho cuộc sống của con người và các sinh vật trên trái đất. - Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người. - Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển (UNFCCC,1992). Thích ứng và giảm thiểu ảnh hưởng biến đổi khí hậu Trước hết, cần phải khẳng định rằng việc ứng phó với biến đổi khí hậu là một quá trình lâu dài và chúng ta rất khó để cải thiện tình hình hiện nay mà chúng ta chỉ có thể làm giảm cường độ và tốc độ của nó cũng như đưa ra các giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu. 8 Thích ứng được hiểu như là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường khí hậu thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội thuận lợi do nó mang lại. Như vậy, thích ứng là quản lý những vấn đề không thể tránh được, hay một cách đơn giản là tìm các biện pháp để “sống chung’’.
[14] Trong khi đó, giảm nhẹ không phải là làm giảm các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu mà là giảm các nguồn gây nên biến đổi khí hậu, trong đó khí nhà kính là một ưu tiên hàng đầu. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là hệ quả của nhiều hoạt động kinh tế xã hội của con người cũng như quy luật hoạt động của các quyển trên trái đất, bao gồm khí quyển, thạch quyển, địa quyển và thủy quyển. Ảnh hưởng rõ nét của biến đổi khí hậu chính là sự dâng lên của mực nước biển và sự nóng lên toàn cầu hiện nay. Đây là một chuỗi các nguyên nhân và hệ quả, tuy nhiên sâu xa hơn chính là do hiện tượng khí nhà kính.
Khí nhà kính hay hiệu ứng nhà kính là do cacbonic (CO2), metan (CH4), các hợp chất clorofluoroacbon (CIFC5) và oxit nitơ (N2O). Nồng độ của chúng trong khí quyển tăng nhanh nhất trong 50 năm trở lại đây do những hoạt động của con người và đặc biệt là do việc dùng các nhiên liệu mỏ và do đó hiệu ứng nhà kính tăng lên một cách đáng lo ngại. [26] Ngày nay, người ta hiểu khái niệm này một cách rộng hơn cho cả môi trường sinh vật đang sinh tồn là trái đất. Hiệu ứng nhà kính là hiệu ứng làm cho không khí của trái đất nóng lên do bức xạ sóng ngắn của Mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất, mặt đất hấp thu làm nóng lên sau đó lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thu làm cho không khí nóng lên (Al Gore, 2006).
Trái đất luôn nhận được các bức xạ mặt trời chiếu xuống. Đây là yếu tố hàng đầu đảm bảo cho sự tồn tại sự sống của các sinh vật trên trái đất. Một phần năng lượng này sẽ được trái đất giữ lại (bị hấp thu), một phần lớn còn lại bị phản xạ ra không gian. Tuy nhiên, do hiệu ứng nhà kính, các chất khí tồn tại trong bầu khí quyển trái đất, tạo 9 thành một vành đai, được hiểu như là “một lớp chăn“ sẽ giữ lại nhiệt lượng này, từ đó làm cho trái đất nóng lên.
Khi trái đất nóng lên; kéo theo đó sẽ là các hiện tượng như băng tan, làm thay đổi áp suất từ đó làm thay đổi khí quyển. Hiệu ứng nhà kính Nồng độ của CO2 trong không khí hiện nay đang ở mức cao, các nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ CO2 năm 2007 gấp đôi so với mức trung bình từ trước đến nay, trong khi đó dự báo đến năm 2100 sẽ tăng lên từ 2,5 đến 4 lần tùy thuộc vào mức độ phát thải ở các cấp khác nhau (World Bank, 2010). Biến động nồng độ CO2 trong không khí 10 Việc phát thải khí CO2 chủ yếu là từ các quốc gia công nghiệp lớn như: Trung Quốc, Mỹ, Nga, Nhật. và các nước có thu nhập ở mức cao.
Bình quân lượng CO2/người tại một số quốc gia [14]. Điều này là do số lượng đồ dùng có phát thải các khí gây nên hiệu ứng nhà kính tại các quốc gia này đều ở mức lớn hơn so với các nước khác (World Bank, 2010). Trong khi đó, môi trường là tài sản chung của nhân loại và các tác động của nó đến nhân loại là hoàn toàn như nhau, chưa kể đến người dân tại các quốc gia có thu nhập thấp do không có cơ sở hạ tầng, kỹ năng ứng phó nên trở thành đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Chính vì vậy, thế giới đã thống nhất đưa ra các chương trình, hành động nhằm bắt buộc, khuyến cáo các chính phủ cắt giảm mức độ phát thải nhằm cứu lấy trái đất khi chưa muộn.
Một trong những công ước quan trọng của việc cắt giảm khí thải là nghị định tư Kyoto. Nghị định này quy định một số nội dung chính như sau: + Các nước phát triển cam kết giảm tổng lượng phát thải khí nhà kính thấp hơn năm 1990, trung bình là 5,2% trong thời kỳ cam kết đầu tiên 2008 - 2012. + Đưa ra “3 cơ chế mềm dẻo” để hỗ trợ và khuyến khích. - Cơ chế đồng thực hiện (JI).
11 - Cơ chế buôn bán quyền giảm phát thải (ET). - Cơ chế phát triển sạch (CDM). Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là một quá trình lâu dài, trên phạm vi rộng. Các ảnh hưởng này tác động đến nhiều lĩnh vực trong tự nhiên cũng như xã hội.
Sự tác động của biến đổi khí hậu và các lĩnh vực này có tính chất qua lại và tồn tại mối quan hệ hữu cơ ngay giữa các yếu tố. Chính vì vậy, khi một yếu tố thay đổi, sẽ kéo theo cả một hệ thống bị ảnh hưởng. Tác động của BĐKH và suy giảm tài nguyên, kinh tế (Tuấn, 2009) [17]. Một hiện rõ nét dễ nhận biết là sự thay đổi hệ thống thời tiết của thế giới, cường độ các hiện tượng dị thường thời tiết xảy ra ngày càng mạnh trong khi đó tần suất đang có xu hướng tăng nhanh chóng trong thời gian qua.
Số lượng các thiên tai giai đoạn 1900 - 2007 (IPCC,2007) [30]. Trong đó nổi bật là cơn bão Kartina, đã làm cho thế giới phải giật mình nhìn lại vì từ trước đó, khu vực Đại Tây Dương không hề xuất hiện các cơn bão lớn và chưa bao giờ được coi là “ổ bão’’ của thế giới. Một vấn đề quan trọng là sự nóng lên toàn cầu sẽ làm cho khối lượng băng ở các cực tan ra nhanh chóng đồng thời làm nước biển dâng lên nhiều trong những năm tới. Theo tính toán của các chuyên gia IPCC, nếu nước biển dâng lên khoảng 1m, cả thế giới sẽ mất đi 350 ngàn km2 và khoảng 50 triệu người dân sẽ bị ảnh hưởng.