CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã đề cập đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án. a) Những nghiên cứu khái quát về dịch vụ logistics và doanh nghiệp logistics Chủ đề logistics đã được nhiều học giả quốc tế nghiên cứu trong nhiều thập kỷ trước đây.
Trong giai đoạn phát triển hệ thống phân phối vật chất (1950-1970), các nghiên cứu trong ngành sản xuất chú trọng đến mục tiêu sản xuất ra sản phẩm với chi phí thấp nhất (Lummus và Vokura, 1999). Đến những năm 1980, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty toàn cầu đòi hỏi logistics và quản trị chuỗi cung ứng (SCM) hướng đến mục tiêu giảm thiểu chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Mô hình “Just- in-time” ra đời là minh chứng cho việc nâng cao hiệu quả (HQ) sản xuất và rút ngắn vòng quay sản phẩm trong chuỗi cung ứng. Sang những năm 1990, các DN bắt đầu chú trọng đến quản trị nguồn lực trong DN, bao gồm cả các bộ phận logistics và nhà cung cấp chiến lược (Lummus và Vokura, 1999).
Từ những năm 1990, nhiều nhà khoa học đã chú trọng nghiên cứu về dịch vụ logistics bên thứ ba (Third Party Logistics- 3PL) hay còn gọi là dịch vụ logistics thuê ngoài (outsourcing). DN logistics 3PL là DN cung cấp các dịch vụ logistics cho các công ty thuê ngoài dịch vụ để điều phối vận chuyện hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. DN logistics 3PL cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng đa dạng như sản xuất, kết nối sản phẩm thượng nguồn và hạ nguồn, kết nối nhà cung cấp và khách hàng trong chuỗi cung ứng (Kajita và Ohta, 2001). Nghiên cứu logistics và SCM thường nhấn mạnh hai quan điểm chính: hội nhập tổ chức và điều phối dòng chu chuyển.
Trong hội nhập tổ chức, các DN phải đối mặt với cạnh tranh gia tăng và tương tác với các nhà cung cấp, khách hàng để cải thiện đáp ứng cung cấp, dịch vụ khách hàng và giảm chi phí hoạt động. Cán bộ quản lý cấp cao cần giải quyết rào cản chức năng giữa các quy định, chẳng hạn như sản xuất, phân phối, tiếp thị, kế toán, nghiên cứu và phát triển nhằm cải thiện cán sự kết dính. Trong 6 điều phối dòng chu chuyển, công ty điều phối phương tiện, thông tin và các dòng vốn trong mạng chuỗi cung ứng để tối đa hóa hiệu suất và hiệu quả và giảm thiểu lãng phí (Lee and Ng, 1998). b) Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics Từ những năm 1990, cùng với khởi đầu nghiên cứu về dịch vụ logistics 3PL, các nhà khoa học bắt đầu chú trọng nghiên cứu về HQKD dịch vụ logistics.
Công trình nghiên cứu “Hiệu quả logistics: Định nghĩa và đo lường” (Logistics Performance: Definition and Measurement” của Chow (1994) đã đưa ra khái niệm về HQKD dịch vụ logistics và các chỉ tiêu đo lường HQKD dịch vụ logistics. Theo tác giả, HQ dịch vụ logistics cần xem xét rộng hơn phạm vi DN và cần xem xét trên nhiều mục tiêu. Từ đó, tác giả định nghĩa HQKD dịch vụ logistics là đạt được các mục tiêu: tăng trưởng doanh thu, đảm bảo việc làm và điều kiện làm việc, hài lòng khách hàng, sẵn có sản phẩm, HQ chi phí, khả năng sinh lợi, trách nhiệm xã hội, giao hàng đúng hạn, giữ cam kết, giảm thiểu hư hỏng và mất, giá thành hợp lý và sự linh hoạt. Để đánh giá HQKD logistics, tác giả đưa bốn nhóm chỉ tiêu đo lường và các ưu, nhược điểm của từng nhóm chỉ tiêu: (i) Các chỉ tiêu thống kê về tài chính (doanh thu, lợi nhuận); (ii) Các chỉ tiêu thống kê về chi phí (chi phí vận tải, chi phí nhân công); (iii) Các chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu ra và chi phí đầu vào hoặc chỉ số đo lường HQ (số lượt hàng vận chuyển/giờ); (iv) Các chỉ tiêu định tính (chất lượng dịch vụ, thời gian vòng quay (nhanh/chậm)).
Điểm hạn chế của công trình này là tác giả chỉ mới đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics và đề xuất một số nhóm chỉ tiêu đo lường dựa trên tổng hợp lý các công trình nghiên cứu. Tác giả thừa nhận rằng định nghĩa và đo lường hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistic là một nhiệm vụ khó khăn cho các nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Từ đó, tác giả đề xuất 5 khuyến nghị cho các công trình nghiên cứu tiếp theo. Thứ nhất, cần nỗ lực phát triển chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh.
Các nhà nghiên cứu cần chú trọng nghiên cứu và đưa các định nghĩa và phương thức đo lường hiệu quả kinh doanh đồng thời nêu rõ các hạn chế của các công trình nghiên cứu. Các chỉ tiêu, phương thức đưa ra cần hợp lý. Thứ hai, khuyến khích sáng tạo trong các thiết kế nghiên cứu. Ví dụ, việc thu thập phiếu điều tra khảo sát qua gửi thư là cách thường dùng nhưng các nhà nghiên cứu cũng có thể phát triển thêm các phương thức khác.
Thứ ba, cần phát triển các mô hình đo lường hiệu quả logistics ngoài những mô hình truyền thống. Thứ tư, cần nhận thức ý nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng. Để đo lường hiệu quả cần xác định vai trò cụ thể của các thành viên trong chuỗi cung ứng. Các thành viên ở các bộ phận khác nhau có những chức năng khác nhau.
Bên cạnh 7 đó, đo lường hiệu quả cần xem xét hiệu quả tổng thể của chuỗi cung ứng, thay vì hiệu quả của từng thành viên riêng lẻ. Thứ năm, cần có kết nối giữa lý thuyết và thực tiễn. Các nhà nghiên cứu và nhà quản lý doanh nghiệp cần có những trao đổi, thảo luận để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trong dài hạn. Mục tiêu của logistics và SCM là nâng cao hiệu suất và HQ hoạt động của chuỗi cung ứng, do đó nhiều nhà khoa học đã chú trọng đến đánh giá HQ hoạt động chuỗi cung ứng.
Croom (2000) cho rằng nghiên cứu về HQKD dịch vụ logistics cần chú trọng đến đo lường HQ hoạt động của chuỗi cung ứng, bao gồm sáu lĩnh vực: quản trị chiến lược, dịch vụ logistics, marketing, quan hệ khách hàng, mô hình tối ưu, hành vi tổ chức. Tác giả Keebler và Plank (2009) nghiên cứu thực trạng HQ logistics của các DN ở Hoa Kỳ và đưa ra chuẩn mực đánh giá HQ dịch vụ logistics cũng như các đề xuất nhằm nâng cao HQ. Theo tác giả, HQ logistics được thể hiện ở năm nhóm chỉ tiêu đánh giá:Thứ nhất, HQ trong DN. Các chỉ tiêu đo lường gồm sự chính xác kiểm hàng tồn kho, thời gian vòng quay tiền, sự chính xác trong xử lý hàng, đáp ứng các yêu cầu đặt hàng.
Thứ hai, HQ đối với các thành viên giao dịch trong chuỗi cung ứng. Các chỉ tiêu đo lường gồm số lần phản ánh của khách hàng, sự giao hàng đúng hạn, sự mất mát hay hư hỏng hàng hóa, hàng trả lại, thời gia vòng quay đặt hàng, sự hài lòng của khách hàng, sự chính xác trong dự báo, sự chính xác của hóa đơn, thời gian trả lời khiếu nại. Thứ ba, HQ về chi phí. Các chỉ tiêu đánh giá gồm chi phí vận chuyển hàng, chi phí hàng tồn kho, chi phí dự trữ hàng ở kho của bên thứ ba, chi phí logistics trên từng đơn vị sản phẩm.Thứ tư, HQ về năng suất.
Các chỉ tiêu đánh giá gồm số lượng hàng hoàn thành tồn kho, số lượng đơn hàng được thực hiện, số lượng sản phẩm thực hiện trên một nhân công, số lượng sản phẩm thực hiện trên giờ, số lượng sản phẩm thực hiện trên một đơn vị vận tải. Thứ năm, HQ tối ưu hóa. Các chỉ tiêu đánh giá gồm khả năng sử dụng trang thiết bị HQ, khả năng sử dụng kho bãi tối ưu, khả năng sử dụng nhân lực tối ưu. Logistics được xem là ngành công nghiệp phụ trợ đối với các ngành công nghiệp chế tạo, phát triển dịch vụ logistics được coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế mỗi quốc gia.
Mọi DN đều phải sử dụng dịch vụ logistics dưới nhiều dịch vụ khác nhau. Với các DN có tham gia các hoạt động TM quốc tế thì các dịch vụ logistics càng đóng vai trò quan trọng. Có thể nói logistics bao gồm tất cả các vấn đề đối với nhà quản lý hoạt động trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hóa hoặc liên quan đến các hoạt động thương mại quốc tế như thủ tục, các điều kiện thanh toán, điều khoản trong thương mại, các hợp đồng phân phối và bán hàng đại lý, thủ tục hải quan, đóng gói và vận tải (Pierre and Richard, 8 2006). Một số nghiên cứu cho rằng trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu hiện nay thì áp lực của các quốc gia, địa phương trong việc giúp tạo ra GTGT cho các DN thông qua tiết giảm chi phí logistics ngày càng cao hơn bao giờ hết.
Có một sự thừa nhận ngày càng được củng cố rằng thông qua việc nâng cao HQ hoạt động logistics và hiệu suất trong SCM sẽ giúp đạt được cả hai mục tiêu là giảm chi phí và thúc đẩy hoạt động dịch vụ. Mục tiêu SCM gắn liền với mục tiêu đạt được về thị trường, mạng lưới phân phối, quá trình sản xuất theo cách mà các DN sẽ được phục vụ tốt hơn và tất nhiên với chi phí thấp hơn (Martin, 2005). c) Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics Nhiều nhà khoa học đã tập trung phân tích, đánh giá HQKD của DN cung cấp dịch vụ logistics theo các cách tiếp cận, phương pháp, mô hình khác nhau. Một trong những cách tiếp cận khá toàn diện, bao gồm cả các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính là sử dụng thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC).
Chia và các tác giả (2009) sử dụng phương pháp thẻ điểm cân bằng theo bốn góc độ, bao gồm 15 chỉ tiêu để đánh giá HQKD của các DN logistics trong lĩnh vực vận tải đường bộ, vận tải đường biển, kho bãi, phân phối hàng điện tử. Dưới góc độ tài chính, các chỉ tiêu đánh giá bao gồm lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), tổng doanh thu, lợi nhuận trước thuế và giảm chi phí. Thị phần, số lượng khách hàng giữ lại và sự hài lòng của khách hàng là chỉ tiêu đánh giá dưới góc độ của khách hàng. Dưới góc độ quy trình kinh doanh nội bộ, các chỉ tiêu đánh giá bao gồm chất lượng của dịch vụ, dịch vụ mới được triển khai, giao hàng đúng hạn và giảm chất thải.