Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI LIỆU LƯU TRỮ, HOẠT ĐỘNG LƯU TRỮ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tài liệu lưu trữ - Khái niệm tài liệu: Thực tế trong công tác lưu trữ dùng nhiều khái niệm về tài liệu, như: Thu thập tài liệu, phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu, tiêu hủy tài liệu., ngay trong nhiều giáo trình về công tác lưu trữ cũng đề cập nhiều về khái niệm tài liệu và các loại hình tài liệu. Như vậy, tài liệu được hiểu là dạng vật chất ghi nhận thông tin.Nguyễn Lệ Nhung: “Thuật ngữ “tài liệu” (thuật ngữ tiếng Anh tương tự với nó được chấp nhận là “document”) được định nghĩa như là thông tin (dữ liệu có giá trị) và vật mang tin tương ứng có thể là giấy, ảnh, vật liệu từ, điện tử hay đĩa quang.
Dạng chung của tài liệu là bản ghi (thuật ngữ tiếng Anh tương tự “record”) - là tài liệu chứa đựng các kết quả đã đạt được hoặc xác nhận hoạt động đã hoàn thành” [58]. Tài liệu là các loại công văn, giấy tờ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức cá nhân. Thực tế hàng ngày, hàng giờ khối lượng tài liệu sản sinh ra trong các cơ quan, tổ chức và cá nhân ngày càng gia tăng, không thể tính được một cách chính xác. Những tài liệu này cần được lưu trữ lại để phục vụ cho những lợi ích lâu dài của quốc gia và của các cơ quan, tổ chức.
Theo Luật Lưu trữ, khái niệm về tài liệu được viết ghi rõ tại Khoản 2, Điều 2 của Luật Lưu trữ năm 2011: “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [38]. Vì vậy, không phải toàn bộ tài liệu khi sản sinh ra đã là tài liệu lưu trữ và được đưa vào kho lưu trữ. Tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được lựa chọn, đánh giá hết sức chặt chẽ, nghiêm ngặt để đưa vào bảo quản trong các cơ quan lưu trữ để phục vụ mục đích thực tiễn và nghiên cứu khoa học, lịch sử. Thực tế này đòi hỏi các cơ quan lưu trữ phải nghiên cứu, xác định giá trị để lựa chọn những tài liệu thực sự có giá trị và tuân theo nguyên tắc nhất định.
9 - Khái niệm “Tài liệu lưu trữ”: Theo cách hiểu thông thường tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lưu lại, giữ lại để đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin quá khứ, phục vụ đời sống xã hội. Quan điểm về tài liệu lưu trữ có thể nói ngày càng có sự biến đổi nhất định phù hợp với sự phát triển của xã hội con người. Theo nghĩa chuyên ngành tài liệu lưu trữ được định nghĩa như sau: Một trong những khái niệm làm nền tảng chung cho công tác lưu trữ, lưu trữ học và tất cả các hoạt động lưu trữ. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về “tài liệu lưu trữ”.
Theo định nghĩa của Hội đồng Lưu trữ quốc tế: “Tài liệu lưu trữ là những tài liệu hết giá trị hiện hành được bảo quản, có sự lựa chọn hoặc không có sự lựa chọn, bởi những ai có trách nhiệm về sự việc sản sinh ra nó hoặc bởi những người thừa kế nhằm mục đích sử dụng riêng của họ, hoặc bởi một cơ quan lưu trữ tương ứng vì giá trị lưu trữ của chúng” (theo Giáo trình lý luận và phương pháp công tác lưu trữ) [57 tr. Theo Điều 3, mục 2 trong Luật Liên bang Nga số 125-fz về “Công tác lưu trữ Liên bang Nga”, ban hành ngày 22/12/2004. Trong Luật này tài liệu lưu trữ được định nghĩa như sau: “Là vật mang vật chất với thông tin được ghi trên đó có các yếu tố thể thức cho phép nhận dạng được nó và thuộc diện bảo quản do ý nghĩa của vật mang vật chất và ý nghĩa của thông tin đã định đối với công dân, xã hội và nhà nước” (Theo Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ của Trường Đại học Nội vụ Hà nội) [57 tr. Hiện nay, khái niệm tài liệu lưu trữ của nước ta được quy định cụ thể trong Luật Lưu trữ năm 2011, tại Khoản 3, Điều 2 của Luật Lưu trữ năm 2011 ghi rõ: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ.
Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp” [38 ]. Luật Lưu trữ là một văn bản pháp lý cao nhất của ngành Lưu trữ ở nước ta hiện nay. Khái niệm “Tài liệu Lưu trữ” được Luật Lưu trữ trình bày ngắn gọn, chính xác về tài liệu lưu trữ và cũng là khái niệm được tác giả sử dụng trong luận văn. - Tài liệu lưu trữ cơ quan: Theo PGS.
Nguyễn Minh Phương, PGS. Triệu Văn Cường viết trong cuốn Lưu trữ tài liệu của các cơ quan, tổ chức (Nhà 10 xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2016) có viết : “Tài liệu lưu trữ cơ quan là tài liệu sản sinh trong quá trình hoạt động của mỗi cơ quan, phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, có giá trị thực tiễn, khoa học, lịch sử, được lựa chọn nộp lưu vào lưu trữ cơ quan để sử dụng cho hiện tại và lâu dài” [55 tr. Phần lớn tài liệu lưu trữ cơ quan có giá trị thực tiễn, chủ yếu phục vụ cho giải quyết các công việc do chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quy định. Tài liệu lưu trữ của cơ quan là tài sản của cơ quan thuộc quyền sở hữu và quản lý của cơ quan.
Tài liệu lưu trữ của cơ quan, đơn vị, sự nghiệp nhà nước là tài sản nhà nước. Nhà nước phân cấp cho người đứng đầu trực tiếp quản lý. Tài liệu lưu trữ cơ quan là nguồn nộp lưu vào lưu trữ lịch sử. - Đặc điểm tài liệu lưu trữ: Tài liệu lưu trữ là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tài liệu lưu trữ có nguồn gốc xuất xứ vì chúng là sản phẩm phản ánh trực tếp hoạt động của các cơ quan và chứa đựng thông tin có giá trị cần tiếp tục bảo quản, có độ chính xác cao vì là bản chính, bản gốc hoặc bản sao hợp pháp của văn bản, tài liệu. - Tài liệu bao gồm nhiều loại hình khác nhau: Căn cứ vào đặc điểm ghi tin của tài liệu, theo giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ của Trường Đại học Nội vụ Hà nội, về cơ bản bao gồm 5 loại hình tài liệu sau: + Tài liệu lưu trữ hành chính: Tài liệu được hình thành chủ yếu trong các cơ quan, tổ chức và là loại hình tài liệu phổ biến nhất hiện nay. Tài liệu hành chính là hệ thống các văn bản quản lý nhà nước như: Hiến pháp, Luật, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Tờ trình, Kế hoạch, Báo cáo, Công văn. + Tài liệu lưu trữ khoa học - công nghệ (trước đây hay gọi là tài liệu khoa học kỹ thuật): Đây là loại hình tài liệu được hình thành trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng các quy luật tồn tại trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.
+ Tài liệu lưu trữ nghe - nhìn: Là loại hình tài liệu phim ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình. Đặc điểm sử dụng của những tài liệu này là trực tiếp nghe, nhìn thấy hình ảnh. + Tài liệu lưu trữ văn học, nghệ thuật: Là loại tài liệu ghi lại quá trình và kết quả lao động trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật như: Kịch, tuồng, chèo, nhạc, họa, văn, thơ, ca. được hình thành trong quá trình hoạt động của các nhà văn, nhà 11 thơ, nhà hoạt động nghệ thuật.
+ Tài liệu lưu trữ điện tử: Được quy định tại Khoản 1 Điều 13 của Luật Lưu trữ năm 2011: “Tài liệu lưu trữ điện tử là tài liệu được tạo lập ở dạng thông điệp dữ liệu hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được lựa chọn để lưu trữ hoặc được số hóa từ tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác”[38]. Khái niệm Lưu trữ, lưu trữ cơ quan - Khái niệm lưu trữ: “Lưu trữ” là một thuật ngữ nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Arch”, dùng để chỉ nơi làm việc của chính quyền. Về sau dùng để chỉ ngôi nhà bảo quản tài liệu. Hiểu theo nghĩa rộng thì “Lưu trữ” có nghĩa là lưu lại, giữ lại các loại văn bản, hồ sơ của cơ quan, của cá nhân để làm bằng chứng và tra cứu khi cần thiết.
- Khái niệm lưu trữ cơ quan: Bộ phận quản lý công tác lưu trữ là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của một cơ quan. Bộ phận quản lý công tác lưu trữ có chức năng giúp lãnh đạo quản lý công tác lưu trữ trong cơ quan. Nguyễn Minh Phương, PGS.Triệu Văn Cường: “Lưu trữ cơ quan là một đơn vị tổ chức của cơ quan, hoặc tổ chức do cơ quan, tổ chức thành lập và quản lý trực tiếp. Nếu cơ quan nhà nước thì lưu trữ cơ quan là một đơn vị của cơ quan nhà nước” (Lưu trữ tài liệu của các cơ quan, tổ chức) [55 tr.
Theo Luật Lưu trữ năm 2011 tại Khoản 4 Điều 2, khái niệm Lưu trữ cơ quan được xác định: “Lưu trữ cơ quan là tổ chức thực hiện hoạt động lưu trữ đối với tài liệu lưu trữ của cơ quan, tổ chức” [38]. Để tổ chức tốt quản lý công tác lưu trữ, Đảng và Nhà nước đã quyết định thành lập hệ thống lưu trữ các cơ quan, được tổ chức từ trung ương đến địa phương. Bao gồm có hệ thống cơ quan, tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội và hệ thống cơ quan, tổ chức nhà nước. - Trách nhiệm của lưu trữ cơ quan: Tại Điều 10 của Luật lưu trữ năm 2011, Lưu trữ cơ quan có nhiệm vụ: “Giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức hướng dẫn việc lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu.
Thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, thống kê, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ. Giao nộp tài liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn thuộc Danh mục tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử; tổ chức huỷ 12 tài liệu hết giá trị theo quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức” [38].