Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái quát về Công ty chứng khoán 1. Khái niệm, mô hình tổ chức của Công ty chứng khoán 1. Khái niệm Theo Quyết định số 27/2007 của Bộ Tài Chính “Công ty chứng khoán (CTCK) là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”.
Ở Việt Nam, theo Luật chứng khoán, chương VI, điều 59 của Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006, CTCK được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của luật doanh nghiệp. Và Uỷ ban chứng khoán nhà nước là cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho CTCK, giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Theo điều 65 của Luật chứng khoán và điều 18 của Nghị định 14 của Chính Phủ thì Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh với vốn pháp định cho các nghiệp vụ là như sau: Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam; Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam; Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam; Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam; Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán. 3 Ngoài các nghiệp vụ trên Công ty chứng khoán còn được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
Có thể phân loại CTCK thành các loại sau: - Công ty môi giới chứng khoán: là công ty chuyên cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng và hưởng hoa hồng. - Công ty bảo lãnh phát hành: là công ty chuyên cung cấp các dịch vụ bảo lãnh đối với các công ty có nhu cầu phát hành chứng khoán và hưởng phí từ dịch vụ cung cấp hoặc hưởng lợi từ sự chênh lệch giá chứng khoán (trong trường hợp bảo lãnh có cam kết mua số chứng khoán còn dư). - Công ty kinh doanh chứng khoán: là công ty tự bỏ vốn và tự kinh doanh chứng khoán (giống như bất kỳ một nhà đầu tư nào), họ kinh doanh trên vốn của mình - Công ty tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán: là công ty cung cấp các dịch vụ tư vấn, định giá doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, tư vấn phát hành chứng khoán (cho các tổ chức phát hành), tư vấn đầu tư (cho các nhà đầu tư)… và cũng hưởng phí dịch vụ. - Công ty quản lý danh mục đầu tư (các quỹ): đây là những công ty nhận uỷ quyền hay nguồn vốn từ khách hàng, thông qua việc giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán để kiếm lời cho mình và cho khách hàng.
- Công ty trái phiếu là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu - Công ty chứng khoán không tập trung : là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị trường phi tập trung (OTC ) và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường. Mô hình tổ chức của Công ty chứng khoán Là một trung gian tài chính đặc biệt nên hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Vì 4 vậy việc xác định mô hình tổ chức CTCK cũng có những điểm khác nhau và vận dụng cho các khối thị trường là khác nhau. Tuy nhiên có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK theo 2 nhóm sau: a.
Công ty chứng khoán đa năng Đây là những CTCK được tổ chức dưới một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Qua đó có thể thấy mô hình này chính là việc các ngân hàng thương mại đứng ra hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được chia làm 2 loại: Loại đa năng toàn phần: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác => Mô hình ngân hàng kiểu Đức. Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thanh lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ => Mô hình ngân hàng kiểu Anh.
- Ưu điểm: Giảm bớt rủi ro nhờ đa dạng hóa đầu tư Kết hợp nhiều loại hình kinh doanh Tận dụng thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán - Nhược điểm: Ngân hàng thường bảo thủ thường không phát triển thị trường cổ phiếu Dễ gây lũng đoạn thị trường Hoạt động kinh doanh tiền tệ dễ bị ảnh hưởng mạnh bởi các biến động trên thị trường chứng khoán 5 b. Công ty chứng khoán chuyên doanh Hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do Công ty độc lập kinh doanh chứng khoán, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách. - Ưu điểm: Hạn chế rủi ro cho hệ thống Ngân hang Tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường chứng khoán phát triển - Nhược điểm: Không tận dụng được các ưu điểm của Ngân hàng c. Công ty trách nhiệm hữu hạn Là doanh nghiệp mà thành viên có thể là tổ chức, cá nhân mà số lượng thành viên không vượt quá 50 người.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu. - Ưu điểm: Có tư cách pháp nhân Nhiều thành viên tham gia cùng góp vốn, cùng kinh doanh Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỷ lệ vốn góp Số vốn góp không quá lớn - Nhược điểm: Không được huy động vốn trực tiếp từ công chúng (phát hành chứng khoán) Quyền quyết định bị thu hẹp Đơn vay tín dụng phải kiểm tra kỹ lưỡng, đòi hỏi chính xác d. Công ty cổ phần Là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Và những người sở hữu những cổ phần đó được gọi là cổ 6 đông, và đây chính là những chủ sở hữu Công ty. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. - Ưu điểm: Có khả năng huy động vốn rất lớn và linh hoạt trong việc thay đổi quy mô, cơ cấu sở hữu thông qua phát hành và niêm yết chứng khoán Đầu tư vào công ty cổ phần có thể làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư do đa dạng hoá nhà đầu tư, cơ cấu sở hữu đan xen Tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Thông tin minh bạch - Nhược điểm: Mâu thuẫn giữa các chủ thể Đánh thuế trùng Bị giám sát chặt chẽ Chi phí thông tin Tách biệt quản lý và sở hữu Là loại hình công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn cao nhất Do những ưu điểm của Công ty cổ phần, đặc biệt là việc có thể phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán nên trong thời gian tới hướng thành lập cũng như hoạt động của các doanh nghiệp hầu hết sẽ là Công ty cổ phần.2 Các hoạt động cơ bản của Công ty chứng khoán a.
Nghiệp vụ môi giới chứng khoán Môi giới chứng khoán: là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo 7 đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình. Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán b. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình.
Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên các thị trường chứng khoán giao dịch tập trung như sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán trong trường hợp này lệnh giao dịch của công ty được nhập vào hệ thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của khách hàng. Hoặc trên các thị trường OTC, lúc này giao dịch có thể thực hiện trực tiếp giữa công ty với các đối tác thông qua hệ thống mạng máy tính. Ở một số thị trường công ty chứng khoán còn thực hiện hoạt động tự doanh với vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số loại chứng khoán nhất định và tiến hành mua bán với khách hàng nhằm hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán nhằm thu lợi nhuận vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng pháp luật quy định: Công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của chính mình.
Công bố cho khách hàng khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với khách hàng và không được thu phí giao dịch. Khi lệnh giao dịch của khách hàng có ảnh hưởng tới giá của một loại chứng khoán thì công ty chứng khoán không được giao dịch trước cùng loại 8 chứng khoán đó, và không được tiết lộ cho bên thứ ba để giao dịch chứng khoán đó. Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn công ty chứng khoán không được đặt mua hoặc bán loại chứng khoán đó với mức giá bằng hay tốt hơn mức giá của khách hàng. Có các hình thức tự doanh như sau: Mua, bán cổ phiếu quỹ do tình hình thị trường, hay liên quan tới mục đích, định hướng của ban lãnh đạo công ty.
Nhiều CTCK mua nhiều cổ phiếu của một công ty nào đó nhằm mục đích thâu tóm, gây ảnh hưởng tới quyết định của công ty… Mua, bán cổ phiếu nhằm hưởng lợi từ chênh lệch giá, và đầu cơ nhằm thu được lợi từ việc chứng khoán lên giá hay xuống giá.