CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát chung về Hội đồng nhân dân tỉnh 1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân là chủ thể, nguồn gốc tối cao của quyền lực Nhà nước.
Quyền lực Nhà nước được thực hiện theo chế độ tập quyền, theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy Quốc hội và Hội đồng nhân dân có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy Nhà nước. Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt toàn thể nhân dân cả nước, sử dụng quyền lực Nhà nước trên phạm vi toàn quốc. HĐND các cấp thay mặt nhân dân địa phương sử dụng quyền lực Nhà nuớc trong phạm vi địa phương.
Điều này quyết định phạm vi, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND. Điều 119 Hiến pháp 1992 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”. Cho đến nay mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về tính quyền lực của HĐND nhưng hiến pháp 2013 vẫn tiếp tục khẳng định Hội đồng nhân dân là cơ quan Nhà nước ở địa phương, có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh… Hội đồng nhân dân cùng với Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước.
Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ chí Minh về tổ chức chính quyền địa phương. Khoản 2, Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định"Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa 5 phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Với thiết chế cơ quan chính quyền địa phương như hiện nay, quyền lực của nhân dân địa phương được thực hiện thông qua cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân - đó là HĐND. Theo quy định pháp luật, chỉ HĐND mới có thẩm quyền thay mặt cho nhân dân địa phương quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng ở địa phương, giám sát việc tuân theo pháp luật và Nghị quyết của HĐND đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và nhân dân ở địa phương.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh Khoản 8, Điều 19, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh như sau: Một là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Hai là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh về xây dựng chính quyền: Ba là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường. Bốn là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao. Năm là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội.
Sáu là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh về công tác dân tộc, tôn giáo. Bảy là, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội: Tám là, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của 6 Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp huyện. Chín là, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, với 9 nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh ở trên, HĐND thực hiện ba chức năng: - Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương như quyết định chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
- Đảm bảo thực hiện các quy định và quyết định của các cơ quan Nhà nước cấp trên. - Thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương. Thông qua các Nghị quyết tại kỳ họp, HĐND quyết định những nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Việc giám sát thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND nhằm đảm bảo cho Nghị quyết được thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả.
Do đó quá trình thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát của Hội đồng nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát. Các quyết định của HĐND về các vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng…được thể hiện dưới hình thức Nghị quyết. Nghị quyết của HĐND chính là căn cứ pháp lý để các cơ quan Nhà nước (đặc 7 biệt là Uỷ ban nhân dân) tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.
Để khẳng định các Nghị quyết của HĐND có sát với thực tế hay không? Có được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân chấp hành nghiêm chỉnh hay không? thì hoạt động giám sát đóng vai trò hết sức quan trọng. Thông qua giám sát, HĐND kịp thời phát hiện cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, Nghị quyết của HĐND…trên cơ sở đó có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đồng thời thông qua giám sát HĐND kịp thời điều chỉnh Nghị quyết cho phù hợp với thực tiễn. Quá trình giám sát thuờng xuyên tình hình thực hiện các Nghị quyết của HĐND giúp HĐND đôn đốc, kiểm tra qua đó yêu cầu các chủ thể thực hiện đúng nội dung, yêu cầu đã được quy định trong Nghị quyết.
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh a) Khái niệm giám sát Theo khoản 1, Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Khái niệm giám sát phải bao hàm những nội dung sau: Một là, giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đúng hoặc sai với những điều đã quy định. Hai là, giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định (ai là người có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra, đánh giá).
Ba là, giám sát luôn gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai và giám sát cái gì). Bốn là, giám sát phải được tiến hành trên cơ sở quy định cụ thể. Năm là, giám sát là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhất định. 8 Vậy, có thể hiểu: Giám sát là sự theo dõi, quan sát, kiểm tra hoạt động của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để biết được đối tượng bị giám sát có thực thi đúng, đủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao hay không và các quy định về hành vi mà đối tượng giám sát phải làm và được làm có phù hợp với điều kiện thực tiễn hay không và làm rõ được nguyên nhân của sự vi phạm, sự không phù hợp này.
b) Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Giám sát là một trong những chức năng cơ bản của HĐND bên cạnh chức năng quyết định. Theo Điều 19, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp huyện. Ngày 20/11/2015, trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Quốc hội khoá XIII đã ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND nhằm cụ thể hoá hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND các cấp mà trước đó chỉ có Luật giám sát của Quốc hội. Như vậy, hoạt động giám sát của HĐND sẽ được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.