Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bình Dương là một trong những trung tâm công nghiệp phát triển sôi động bậc nhất vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với 32 khu công nghiệp tập trung, hơn 9.600 doanh nghiệp trong nước có tổng vốn đăng ký trên 65.000 tỷ đồng và 3.753 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn hơn 34,23 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của địa phương duy trì ổn định khoảng 14% mỗi năm, thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm tăng trưởng trên 15%. Sự bùng nổ này đặt ra áp lực quản lý nhà nước rất lớn lên hệ thống hải quan địa phương. Mặc dù số thu ngân sách nhà nước qua thuế xuất nhập khẩu luôn tăng trưởng đều đặn và vượt mốc 10.023 tỷ đồng, số lượng khen thưởng của đơn vị lại ghi nhận xu hướng sụt giảm liên tục, từ 475 bằng khen và giấy khen năm 2015 xuống còn 435 lượt vào năm 2019. Đây là dấu hiệu cảnh báo rõ rệt về sự suy giảm động lực làm việc và tinh thần thi đua của đội ngũ cán bộ công chức.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Nguyễn Nhật Anh tại Trường Đại học Thủ Dầu Một tập trung giải quyết bài toán cấp bách: Phân tích thực trạng và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của 282 cán bộ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Bình Dương. Phạm vi nghiên cứu bao gồm cơ quan Cục và các Chi cục Hải quan trực thuộc trong giai đoạn từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong bối cảnh toàn ngành thực hiện tinh giản tối thiểu 10% biên chế theo Nghị quyết 39-NQ/TW và chuẩn bị điều chỉnh thang bảng lương, bãi bỏ hệ số lương đặc thù 1,8 theo Nghị quyết 27-NQ/TW. Kết quả đề tài cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để ban lãnh đạo hoạch định chính sách nhân sự tối ưu, nâng cao hiệu suất thực thi công vụ và bảo đảm an toàn nguồn thu quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kế thừa có chọn lọc các lý thuyết quản trị nhân sự kinh điển và hiện đại. Đầu tiên là Tháp nhu cầu của Maslow (1943) với 5 tầng bậc từ nhu cầu sinh lý đến nhu cầu tự thể hiện bản thân, khẳng định động lực hình thành khi các nhu cầu cơ bản được bảo đảm. Tiếp theo là Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959), phân định rõ giữa nhóm nhân tố duy trì (lương thưởng, phúc lợi, điều kiện làm việc) nhằm ngăn chặn sự bất mãn và nhóm nhân tố động viên (bản chất công việc, sự công nhận, cơ hội thăng tiến) nhằm tạo ra sự thỏa mãn lâu dài. Bên cạnh đó, Thuyết công bằng của Adams (1963) và Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) giải thích cơ chế so sánh cống hiến - đãi ngộ của người lao động. Đặc biệt, Mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1976) đóng vai trò nền tảng với 5 khía cạnh cốt lõi: sự đa dạng kỹ năng, sự rõ ràng của nhiệm vụ, ý nghĩa công việc, tính tự chủ và sự phản hồi.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: động lực làm việc trong khu vực công, nguồn nhân lực hải quan, bản chất công việc, điều kiện công tác và sự công nhận tổ chức. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 nhân tố tác động độc lập: Bản chất công việc, Đào tạo và phát triển, Thu nhập và phúc lợi, Điều kiện làm việc, Sự công nhận, Mối quan hệ với đồng nghiệp; tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là Động lực làm việc của công chức.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2019 từ Phòng Tổ chức cán bộ - Thanh tra và Phòng Tài vụ - Quản trị, kết hợp với dữ liệu sơ cấp thu thập qua bảng hỏi gồm 36 biến quan sát (30 biến độc lập và 6 biến phụ thuộc).

Cỡ mẫu được tính toán khoa học theo công thức của Yamane (1967) với tổng thể N = 295 công chức và sai số cho phép e = 0,05, cho ra quy mô mẫu tối thiểu cần đạt là n = 167 người. Tác giả đã tiến hành phát 279 phiếu khảo sát trực tiếp và thu về 208 phiếu hợp lệ sau khi làm sạch dữ liệu, đạt tỷ lệ phản hồi 74,55%. Về cơ cấu mẫu, nam giới chiếm 43,5%, nữ giới chiếm 56,5%; 90,9% đã kết hôn; 75,5% có trình độ đại học và 18,1% đạt trình độ sau đại học; độ tuổi từ 31 đến 50 tuổi chiếm áp đảo trên 90%.

Phương pháp phân tích kết hợp nghiên cứu định tính qua 2 vòng thảo luận nhóm với 10 chuyên gia có thâm niên công tác trên 10 năm để hiệu chỉnh bảng hỏi, sau đó áp dụng phần mềm SPSS 20 để kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và thống kê mô tả. Phương pháp này được lựa chọn vì tính chính xác cao, giúp đo lường định lượng cụ thể nhận thức của cán bộ công chức đối với từng khía cạnh công việc. Tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt với hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,650 đến 0,740 và hệ số tương quan biến tổng đạt từ 0,513 đến 0,822, hoàn toàn vượt ngưỡng tiêu chuẩn 0,3.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 208 mẫu khảo sát mang lại những phát hiện quan trọng về thực trạng động lực của cán bộ công chức Cục Hải quan tỉnh Bình Dương:

Thứ nhất, mức độ động lực làm việc chung đạt giá trị trung bình 3,38 trên thang đo Likert 5 điểm. Công chức thể hiện niềm tự hào sâu sắc khi làm việc tại đơn vị với điểm số 3,84 và luôn nỗ lực cao nhất khi thực hiện nhiệm vụ với điểm số 3,83. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng bắt đầu làm việc sớm hoặc ở lại muộn để hoàn thành công việc chỉ đạt 2,786 điểm, nằm dưới mức trung lập.

Thứ hai, nhân tố Bản chất công việc đạt điểm trung bình 3,41. Trong đó, tiêu chí công việc được phân công rõ ràng đạt điểm cao nhất 3,947, tính chất công việc thú vị và đổi mới đạt 3,894. Ngược lại, mức độ phù hợp giữa công việc với tính cách và năng lực cá nhân nhận mức đánh giá rất khiêm tốn là 2,767 điểm. Thống kê thực tế cho thấy 100% công chức tại bộ phận nghiệp vụ truyền hồ sơ phải làm việc ngoài giờ từ 100 đến 200 giờ mỗi năm, thậm chí nhiều vị trí vượt quá 200 giờ.

Thứ ba, công tác đào tạo và phát triển ghi nhận sự đầu tư mạnh mẽ với kinh phí 1.449,3 triệu đồng trong năm 2019, tổ chức cho 1.553 lượt công chức tham gia các khóa nghiệp vụ, tăng vượt bậc so với 1.109 lượt của năm 2015. Kết quả kỳ thi đánh giá năng lực theo đề án của Tổng cục Hải quan tại 22 vị trí việc làm cho 145 công chức đạt tỷ lệ 17,24% cán bộ đạt cấp độ 1 trở lên và không có cá nhân nào bị đánh giá dưới chuẩn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến mức độ sẵn sàng làm thêm giờ dừng ở mức thấp (2,786) xuất phát từ tình trạng quá tải kéo dài. Từ năm 2013 đến nay, toàn ngành không được tăng biên chế trong khi khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng trưởng hơn 15% mỗi năm. Công chức phải thường xuyên làm việc đến 18-19 giờ tối và trực vào các ngày nghỉ lễ, gây áp lực nặng nề lên đời sống gia đình. Việc điểm số đánh giá về sự phù hợp năng lực chỉ đạt 2,767 còn chịu tác động bởi quy định luân chuyển, điều động nội bộ định kỳ (2-3 năm trong nội bộ Chi cục, 5 năm trong nội bộ Cục). Dù luân chuyển giúp phòng chống tiêu cực và đa dạng hóa kỹ năng, việc chuyển đổi vị trí đột ngột đôi khi khiến cán bộ phải đảm nhận nhiệm vụ trái sở trường hoặc chưa kịp thích nghi với khối lượng chuyên môn mới.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu của Huỳnh Thị Thu Sương (2017) tại cơ quan hành chính TP.HCM và Bùi Thị Minh Thu (2014), kết quả nghiên cứu này tương đồng ở nhận định rằng Bản chất công việc và Sự công nhận là hai đòn bẩy tâm lý hàng đầu. Những phát hiện trên có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ phân bố tần số phản hồi và biểu đồ thanh so sánh giá trị trung bình giữa 18 chi cục và phòng ban, giúp nhà quản trị nhanh chóng nhận diện những điểm nghẽn tại từng bộ phận tác nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được kiến nghị triển khai nhằm tối ưu hóa động lực làm việc cho cán bộ công chức:

Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình phân công lao động và hoàn thiện cơ chế luân chuyển cán bộ. Ban Lãnh đạo Cục chỉ đạo Phòng Tổ chức cán bộ rà soát 100% bản mô tả vị trí việc làm, xây dựng hồ sơ năng lực cá nhân để bố trí nhiệm vụ phù hợp với chuyên môn đào tạo và sở trường. Mục tiêu là nâng điểm số hài lòng về mức độ phù hợp năng lực từ 2,767 lên trên 3,80 trong giai đoạn 2021-2022, đồng thời xây dựng lộ trình bàn giao công việc tối thiểu 15 ngày trước mỗi đợt điều động định kỳ.

Thứ hai, hoàn thiện chính sách đãi ngộ ngoài giờ và giải tỏa áp lực công vụ. Phòng Tài vụ - Quản trị chủ trì phối hợp cùng Công đoàn xây dựng quy chế thanh toán chế độ làm thêm giờ minh bạch, bảo đảm hỗ trợ kịp thời cho 100% công chức làm việc vượt trần 200 giờ mỗi năm theo quy định tài chính. Bổ sung các khoản phúc lợi phi tiền tệ như tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ chuyên sâu, hỗ trợ xe đưa đón giữa trung tâm thành phố và các chi cục khu công nghiệp xa xôi trong vòng 6 tháng tới.

Thứ ba, nâng cấp chương trình đào tạo theo hướng thực chiến và chuyển đổi số. Phòng Tổ chức cán bộ duy trì ngân sách đào tạo tối thiểu 1,5 tỷ đồng mỗi năm, mở rộng các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS và quản lý rủi ro hiện đại. Mục tiêu đạt tối thiểu 90% lượt công chức thừa hành tham gia cập nhật kiến thức pháp luật hải quan mới mỗi năm.

Thứ tư, đổi mới công tác thi đua khen thưởng và tăng cường ghi nhận đột xuất. Thủ trưởng các Chi cục trực thuộc đẩy mạnh hình thức biểu dương kịp thời tại các cuộc họp giao ban hàng tháng đối với các sáng kiến rút ngắn thời gian thông quan, khắc phục tình trạng dồn tích hồ sơ khen thưởng cuối năm. Phấn đấu khôi phục và duy trì chỉ tiêu khen thưởng đạt trên 480 bằng khen và giấy khen mỗi năm từ năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể sau:

  1. Lãnh đạo và nhà quản lý Cục Hải quan các tỉnh, thành phố: Tiếp cận khung phân tích thực chứng về các yếu tố tâm lý và tổ chức tác động đến công chức ngành hải quan, từ đó ứng dụng vào công tác điều hành, thiết kế lịch trực nghiệp vụ và giảm thiểu nguy cơ quá tải lao động tại đơn vị mình phụ trách.

  2. Cán bộ tham mưu công tác nhân sự, tổ chức cán bộ trong khu vực công: Sử dụng bộ công cụ khảo sát chuẩn hóa gồm 36 biến quan sát cùng quy trình kiểm định độ tin cậy thang đo để triển khai các cuộc khảo sát đánh giá mức độ gắn kết và động lực làm việc định kỳ cho cơ quan hành chính nhà nước.

  3. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý công: Kế thừa cơ sở lý thuyết tổng hợp từ Maslow, Herzberg, Hackman - Oldham và phương pháp phân tích thống kê mô tả trên mẫu khảo sát 208 cán bộ, làm tài liệu tham khảo để mở rộng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính trong các nghiên cứu học thuật tiếp theo.

  4. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đơn vị logistics: Thấu hiểu sâu sắc áp lực công việc, quy trình xử lý hồ sơ và môi trường tác nghiệp của công chức hải quan, từ đó phối hợp chuẩn bị chứng từ chính xác, đẩy nhanh tiến độ thông quan điện tử và xây dựng mối quan hệ hợp tác công - tư minh bạch, hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao nghiên cứu lại chọn Cục Hải quan tỉnh Bình Dương làm địa bàn khảo sát điển hình? Trả lời: Bình Dương là thủ phủ công nghiệp lớn với 32 khu công nghiệp và kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng trên 15% mỗi năm. Đơn vị phải gánh vác chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước vượt 10.023 tỷ đồng trong bối cảnh toàn ngành thực hiện tinh giản 10% biên chế và không tăng tuyển dụng từ năm 2013, tạo nên bối cảnh thực tế điển hình nhất về áp lực tạo động lực trong khu vực công.

Câu hỏi 2: Thang đo trong luận văn được kiểm định độ tin cậy bằng phương pháp nào? Trả lời: Thang đo được chuẩn hóa qua 2 vòng thảo luận nhóm với 10 chuyên gia có trên 10 năm công tác, sau đó kiểm định trên mẫu 208 công chức bằng SPSS 20. Tất cả 7 thang đo đều đạt hệ số Cronbach's Alpha từ 0,650 đến 0,740, cùng hệ số tương quan biến tổng từ 0,513 đến 0,822, chứng minh thang đo đạt độ tin cậy và tính giá trị nội dung rất cao.

Câu hỏi 3: Biến quan sát nào ghi nhận mức độ hài lòng thấp nhất trong kết quả khảo sát? Trả lời: Biến quan sát về sự sẵn sàng làm việc ngoài giờ chỉ đạt điểm trung bình 2,786 và mức độ công việc phù hợp năng lực cá nhân chỉ đạt 2,767 điểm. Nguyên nhân chính là do 100% công chức bộ phận tiếp nhận hồ sơ phải làm việc ngoài giờ từ 100 đến 200 giờ mỗi năm, kết hợp với áp lực thích nghi sau các đợt luân chuyển vị trí định kỳ.

Câu hỏi 4: Nghị quyết 27-NQ/TW về cải cách tiền lương ảnh hưởng như thế nào đến động lực của công chức hải quan? Trả lời: Theo Nghị quyết 27-NQ/TW, ngành hải quan sẽ bãi bỏ hệ số lương cơ sở đặc thù 1,8, tác động trực tiếp đến thu nhập hàng tháng của 282 công chức tại đơn vị. Điều này đòi hỏi ban lãnh đạo phải nhanh chóng đẩy mạnh các giải pháp động viên phi tài chính, cải thiện môi trường làm việc và tăng cường sự công nhận để duy trì sĩ khí làm việc.

Câu hỏi 5: Luận văn đem lại đóng góp mới nào cho công tác quản trị nhân sự ngành hải quan? Trả lời: Luận văn đã lượng hóa chính xác mối liên hệ giữa việc sụt giảm khen thưởng (từ 475 lượt xuống 435 lượt) với áp lực giờ làm thực tế, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể gắn với các mốc thời gian rõ ràng nhằm giúp lãnh đạo Cục giải quyết triệt để vấn đề quá tải và bố trí nhân sự đúng năng lực.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết quản trị động lực kinh điển của Maslow, Herzberg, Adams, Vroom và mô hình đặc điểm công việc của Hackman - Oldham ứng dụng cho đối tượng công chức nhà nước.
  • Đánh giá thực chứng động lực làm việc của 282 cán bộ công chức Cục Hải quan tỉnh Bình Dương thông qua mẫu khảo sát định lượng 208 người đạt độ tin cậy cao với Cronbach's Alpha từ 0,650 đến 0,740.
  • Phát hiện điểm nghẽn lớn nhất trong quản trị nhân lực tại đơn vị nằm ở áp lực làm thêm giờ vượt 200 giờ mỗi năm và sự chênh lệch giữa chuyên môn đào tạo với vị trí được giao sau các đợt luân chuyển.
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ, tập trung vào chuẩn hóa bản mô tả vị trí việc làm, bảo đảm chế độ ngoài giờ, nâng cấp đào tạo thực chiến và đẩy mạnh khen thưởng đột xuất.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, giúp Cục Hải quan tỉnh Bình Dương duy trì ổn định nguồn thu trên 10.023 tỷ đồng và thực hiện thành công các mục tiêu cải cách hành chính.

Đóng góp nổi bật của luận văn là đã chuyển hóa các lý thuyết hành vi tổ chức trừu tượng thành các giải pháp quản trị nhân lực công vụ khả thi, gắn chặt với đặc thù quản lý hải quan hiện đại. Trong giai đoạn 2021-2025, ban lãnh đạo đơn vị cần khẩn trương ban hành quy chế phân công nhiệm vụ mới và chuẩn hóa hệ thống đánh giá năng lực cán bộ. Các nhà quản lý cơ quan nhà nước hãy chủ động tham khảo và áp dụng ngay mô hình này để khơi dậy tiềm năng, nâng cao tinh thần phụng sự và năng suất làm việc của đội ngũ công chức.