Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VIÊN CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm viên chức Là thuật ngữ được dùng đa dạng ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, mang tính lịch sử đồng thời phản ánh nét riêng của nền công vụ và cơ cấu bộ máy chính quyền nhà nước của mỗi quốc gia. Khái niệm viên chức được sử dụng trong nền hành chính và có sự thay đổi tùy thuộc vào từng thời kì và quan niệm của nhà nước đối với này.
Theo Từ điển Tiếng Việt, viên chức là một từ Hán - Việt thì viên là người giữ một chức vụ, chức là các việc về phần minh, viên chức là người giữ một nhiệm vụ nhất định, thường là trong bộ máy chính quyền. Luật viên chức 2010 (số 58/2010/QH12) quy định: Theo Luật viên chức 2020, quy định:“viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Phân loại viên chức Theo điều 3 nghị định 115/2020/NĐ-CP quy định về phân loại viên chức như sau: - Theo chức trách, nhiệm vụ, viên được phân thành hai loại: Viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý - Theo trình độ đào tạo, viên chức được phân loại như sau: + Viên chức trình độ đại học + Viên chức trình độ cao đẳng + Viên chức trình độ trung cấp chuyên nghiệp + Viên chức trình độ sơ cấp nghề. + Viên chức trình độ sau đại học 7 Đặc điểm viên chức Thứ nhất,phải là công dân Việt Nam theo quy định tại Hiến pháp 2013 có các quyền lợi cũng như nghĩa vụ đối với nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định hiện hành.
Thứ hai, về tuyển dụng vào các vị trí việc làm này yêu cầu phải thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển. Theo Điều 20 Luật viên chức năm 2010 “Vị trí việc làm định nghĩa là các công việc hoặc nhiệm vụ liên quan đến chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý” Thứ ba, môi trường làm việc: Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, được thành lập bởi nhà nước hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, có tư cách pháp nhân và nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công và phục vụ quản lý nhà nước ( có thể hoàn toàn tự chủ hoặc chưa tự chủ ) Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian công tác của viên chức tính từ khi hợp đồng lao động có hiệu lực cho đến khi hợp đồng kết thúc hoặc đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: Lương và các điều kiện lao động của viên chức được thỏa thuận thông qua hợp đồng pháp lý giữa cá nhân và đơn vị tuyển dụng, Nhà nước ít can thiệp vào các thỏa thuận này. Chất lượng viên chức Chất lượng là một khái niệm rất rộng, được hiểu và áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sản xuất, kinh doanh cho đến giáo dục và dịch vụ.
Nói chung, chất lượng có thể được định nghĩa là mức độ mà một sản phẩm, dịch vụ, hoặc quá trình đáp ứng được yêu cầu hoặc kỳ vọng của khách hàng hoặc người dùng cuối. Chất lượng không chỉ liên quan đến các đặc tính kỹ thuật, mà còn bao gồm cả các yếu tố như độ tin cậy, hiệu quả, thẩm mỹ và tính năng sử dụng. Trên cơ sở tổng hợp, phân tích các kết quả nghiên cứu liên quan đến chất lượng viên chức có thể khái quát chất lượng viên chức là chất lượng của viên chức trong một tổ chức, đơn vị cụ thể. Đó chính là chất lượng lao động và tinh thần của viên chức trong quá trình hoàn thành công việc.
Chất lượng viên chức bao gồm những điểm chung về đặc trưng của chất lượng nguồn nhân lực và còn là chỉ tiêu 8 tổng hợp của các yếu tố cấu thành như phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, kỹ năng và kết quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Khi đó, nâng cao chất lượng viên chức là những giải pháp, phương pháp mang tính thúc đẩy nhằm tác động tích cực đến chất lượng của từng viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân viên chức đó trong tổ chức, tinh thần phối hợp trong quá trình thực thi nhiệm vụ để hoàn thành công việc chuyên môn hướng tới mục tiêu mà đơn vị đặt ra. Vai trò nâng cao chất lượng viên chức Thứ nhất, nâng cao chất lượng viên chức góp phần quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống.Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã giúp cho viên chức được nâng cao trình độ có đủ khả năng thích ứng để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đây là yêu cầu cầu đúng đắn và cấp thiết cho vấn đề nâng cao chất lượng viên chức trong xu thế hiện nay.
Thứ hai, nâng cao chất lượng viên chức góp phần thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Dân chủ là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu do tính chất và sự liên quan đến sự phát triển của xã hội. viên chức có trọng trách rất lớnvì vậy đảm bảo một đỗi ngũ viên chức vững mạnh sẽ đem lại hiệu quả cho việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Thứ ba, nâng cao chất lượng viên chức cải thiện chất lượng dịch vụ công, tăng cường hiệu quả và hiệu suất làm việc.
Nâng cao năng lực và kỹ năng của viên chức giúp họ thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác, có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho công chúng, giúp giảm thiểu lãng phí thời gian và nguồn lực, tối ưu hóa quy trình làm việc. Thứ tư, nâng cao chất lượng viên chức đảm bảo khả năng thích ứng trước sự thay đổi liên tục của xã hội. Xã hội hiện đại đang trải qua những thay đổi nhanh chóng và sâu rộng do sự tiến bộ của công nghệ, các yêu cầu mới về môi trường và bền vững, cũng như các thách thức kinh tế và xã hội. Viên chức có chất lượng cao, được trang bị tốt sẽ có khả năng đáp ứng hiệu quả các thay đổi và yêu cầu mới.Tiêu chí về chất lượng viên chức 1.
Tiêu chí về thể lực Sức khỏe vừa là mục tiêu của sự phát triển cũng vừa là điều kiện của sự phát triển. Sức khỏe cơ thể là sự dẻo dai, là khả năng lao động bằng chân tay và cơ bắp. Sức khỏe tinh thần là khả năng vận dụng trí tuệ, sự sáng tạo vào công việc, là khả năng chịu áp lực công việc của con người. Trong môi trường làm việc hiện đại với cường độ công việc cao thì sức khỏe luôn là yếu tố được đưa lên hàng đầu nhằm đáp ứng hiệu quả cũng như chất lượng của công việc đó.
Sức khỏe thể chất của viên chức đóng vai trò quan trọng trong khả năng thực hiện công việc và duy trì sự năng động trong môi trường làm việc, là yếu tố quan trọng giúp viên chức duy trì hiệu suất làm việc và sức khỏe tổng thể trong môi trường làm việc. Về sức khỏe thể chất mà một viên chức có thể được đánh giá bằng tình trạng thể chất tổng thể bao gồm các yếu tố như cân nặng, chiều cao, huyết áp, nhịp tim, và các chỉ số sức khỏe khác. Khả năng linh hoạt thực hiện các hoạt động trong công việc, tham gia các hoạt động mang tính nhanh nhẹn, dẻo dai và khả năng chịu đựng và phục hồi trước áp lực và stress từ công việc. Cần có khả năng phục hồi sau một ngày làm việc để đảm bảo sự năng động và hiệu quả trong công việc.
Sức khỏe tinh thần của viên chức đóng vai trò quan trọng trong hiệu suất làm việc và trải nghiệm làm việc của họ. Là yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ, mức độ hoàn thành công việc của viên chức liên qua đến tình trạng tâm lý, tinh thần trong quá trình làm việc khi viên chức tiếp nhận và hoàn thành công việc; sự thoải mái thể hiện bằng trạng thái làm việc tự tin và hài lòng khi thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động trong môi trường làm việc và sự thoải mái trong tinh thần khi làm việc với đồng nghiệp, cấp trên và Khả năng kiểm soát cảm xúc không bị kiểm soát bởi các vấn đề cá nhân, ảnh hưởng đến cảm xúc trong quá trình xử lý công việc. Như vậy,yếu tố thể lực không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của viên chức mà còn đến tinh thần làm việc, khả năng đối phó với áp lực, sự tham gia và hỗ trợ nhóm, cũng như động lực và cam kết của họ đối với công việc. Điều 10 này góp phần tạo nên chất lượng của viên chức và ảnh hưởng đến thành công của tổ chức.
Tiêu chí về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp Trí lực của thể hiện trên hai giác độ, đó là trình độ văn hóa và chuyên môn, năng lực lao động thực hành của nhân lực.Đối với viên chức cần xem xét các tiêu chí: Trình độ văn hóa là tri thức, mức độ nhận thức về các kiến thức chuyên môn trình độ văn hóa được tiếp thu qua hệ thống giáo dục pháp quy, quá trình học tập và nghiên cứu. Trình độ chuyên môn là kiến thức và sự hiểu biết về một ngành, nghề vận dụng vào công việc. là một trong tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng nguồn lực. Trình độ là yếu tố phản ánh khả năng trí tuệ của viên chức, là điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động nghiên cứu.
Trình độ thể hiện ở quá trình đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng nghiên cứu. Trình độ của viên chức được thể hiện ở khả năng tiếp cận và cập nhật những thành tựu mới của thế giới, những tri thức khoa học – công nghệ hiện đại, những đổi mới trong thực tiễn công tác để vận dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Trình độ của viên chức còn thể hiện ở khả năng lĩnh hội khối lượng kiến thức trong quá trình học tập và làm việc.Viên chức phải luôn trong tư thế làm việc tự chủ, khoa học, phát triển từ tư duy đến phương pháp làm việc phù hợp có hiệu quả.Viên chức phải trang bị kĩ năng và nắm vững kĩ năng để làm việc có hiệu quả.