CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VIÊN CHỨC TẠI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm viên chức và viên chức tại các tổ chức khoa học và công nghệ 1. Khái niệm viên chức Viên chức, theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [35, tr.
Theo Nguyễn Tuấn Anh (2016), viên chức là cán bộ, nhân viên được tuyển dụng vào làm việc tại một vị trí việc làm phù hợp ở một đơn vị sự nghiệp công lập do quỹ lương của đơn vị đài thọ trên cơ sở pháp luật quy định. Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng, một người là viên chức, nếu thỏa mãn các điều kiện sau: Thứ nhất, người đó là công dân Việt Nam, là tất cả những người mang quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa tất cả những người mang quốc tịch nước ngoài hoặc không quốc tịch không thể trở thành viên chức. Thứ hai, phải được tuyển dụng theo vị trí việc làm, tức là nói về chế độ tuyển dụng viên chức (Theo Điều 7 Luật Viên chức 2010, “vị trí việc làm được hiểu là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”.104] 16 Như vậy, nói đến vị trí việc làm tức là một vị trí hoặc một chỗ làm việc trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị mà tại đó người cán bộ, công chức, viên chức thực hiện một công việc hoặc một nhóm các công việc có tính ổn định, lâu dài, thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tên gọi cụ thể theo chức danh, chức vụ hoặc theo tính chất công việc và được gắn liền với quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó.
Ví dụ, vị trí giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng; vị trí điều dưỡng, bác sĩ trong các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh,. Thứ ba, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước, nhằm giúp các cơ quan, tổ chức chủ quản thực hiện một chức năng hay một nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ, trường học là nơi tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Bệnh viện là nơi tiếp nhận, khám, cấp cứu, chữa bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân theo các quy định của Bộ Y tế ban hành; Viện nghiên cứu là nơi các nhà khoa học thực hiện chức năng nghiên cứu, tìm hiểu, đưa ra những phân tích, đánh giá và dự đoán đối với các ngành, lĩnh vực thuộc chức năng của Viện nghiên cứu.
Đơn vị sự nghiệp công lập gồm có Đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (gọi là, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ), và Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (gọi là, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ). Các đơn vị sự nghiệp công lập này gồm có: Đơn vị sự nghiệp công lập do Chính phủ thành lập (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt 17 Nam, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam,.); Đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, Tạp chí Cộng sản, .); Đơn vị sự nghiệp công lập của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Báo Tuổi trẻ, Báo Tiền phong,. Thứ tư, chế độ lao động. Viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của bên tuyển dụng và người làm việc. Đơn vị tuyển dụng và người làm việc thỏa thuận với nhau về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên,. Lương của Viên chức được nhận từ quỹ của Đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải từ ngân sách Nhà nước. Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận trong hợp đồng làm việc được ký kết giữa Viên chức và đơn vị tuyển dụng, Nhà nước hầu như không can thiệp vào vấn đề này.
Viên chức theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp, tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, viên chức được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trong các trường hợp: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc; không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc; không đủ sức khỏe hoặc không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc; được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội hoặc được cấp có thẩm quyền điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ được 18 quy định là công chức theo quy định của pháp luật; viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ quan y tế có thẩm quyền. Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau: viên chức có hai năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ; viên chức bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục (đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn) hoặc sáu tháng liên tục (đối với hợp đồng làm việc xác định thời hạn) mà khả năng làm việc chưa hồi phục; khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động hoặc thu hẹp quy mô do những lý do bất khả kháng. Thứ năm, về thời gian làm việc.
Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật lao động. Theo quy định của pháp luật, viên chức được chia thành các loại sau đây: Một là, theo vị trí việc làm, viên chức gồm: - Viên chức quản lý: là những người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. - Viên chức không giữ chức vụ quản lý là những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. Hai là, theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau: Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp 19 hạng II; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV.
Khái niệm viên chức tại các tổ chức khoa học và công nghệ Trong các công trình nghiên cứu khoa học, sách báo, ấn phẩm về khoa học và công nghệ đã công bố, viên chức tại các tổ chức khoa học và công nghệ (từ đây gọi là “viên chức khoa học và công nghệ”) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. - Theo nghĩa rộng, viên chức khoa học và công nghệ bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: (1) đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; (2) đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; (3) chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương. Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn viên chức hoạt động khoa học và công nghệ của một quốc gia, và do đó, rất khó cho việc thống kê, phân tích viên chức khoa học và công nghệ. Để khắc phục khó khăn này, hầu hết các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển - R&D (Research and Development), để thể hiện lực lượng lao động khoa học và công nghệ của mình.
Theo cuốn Cẩm nang FRASCATI - Hướng dẫn thống kê nghiên cứu phát triển của Tổ chức OECD, nhân lực nghiên cứu phát triển bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển. Nhân lực nghiên cứu phát triển được chia thành ba nhóm: [64, tr.108] Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu khoa học (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): đây là những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có trình độ cao 20 đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song họ vẫn thường xuyên làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực khoa học và công nghệ. Họ tham gia vào nghiên cứu phát triển bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu khoa học nhóm 1 ở trên.