Chương 1, Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin và công nghệ, thuật ngữ “Thong tin khoa hoc và công nghệ” được hiểu như sau: Thông tin khoa học và công nghệ là các dữ liệu, số liệu, dit kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tô chức, cá nhân trong xã hội” [11]. Trong hoạt động thực tiễn, thuật ngữ “Thông tin khoa học và công nghệ” thường được sử dụng và hiểu như một khái niệm tổng hợp đặc trưng cho thông tin khoa học, thông tin kỹ thuật, thông tin công nghệ và được dùng để phân biệt với các loại hình thông tin khác như: Thông tin văn hóa nghệ thuật, thông tin y tế, thông tin giáo dục. Tài liệu KHCN chứa đựng các thông tin khoa học công nghệ. 17 Quản lý, có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận.
Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cau nhất định. Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chi đạo, điều hành, điều khiển. Quản lý là một dạng hoạt động đa dạng, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Vì vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý. Khái niệm quản lý dùng trong luận văn là chỉ sự tác động có tô chức, có hướng đích của chủ thé quản lý lên đối tượng và khách thé quan lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức. Nguyên tắc quản lý tài liệu khoa học - công nghệ Thứ nhất, tài liệu khoa học - công nghệ phải được quản lý theo nguyên tắc logic, tổ chức thành bộ hoàn chỉnh theo tiến trình hình thành, có sự liên kết giữa tài liệu quản lý hành chính và tài liệu chuyên ngành, Thứ hai, đảm bảo phương tiện kỹ thuật phục vụ bảo quản và sử dụng. Thứ ba, nhân sự thực hiện quản lý tài liệu khoa học - công nghệ phải được trang bị kiến thức cơ bản về khoa học công nghệ, có kiến thức chung về lưu trữ học.
Chính sách về quan lý tài liệu khoa học - công nghệ Khoa học công nghệ là hoạt động được ưu tiên hàng đầu, là quốc sách của đất nước. Khoa học công nghệ giúp nâng cao năng suất lao động, tạo ra nguyên liệu mới, sản phẩm mới giúp khả năng cạnh tranh tốt hơn, giá trị gia tăng cao hơn, thay thế việc nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa từ nước ngoài, tối ưu hóa quá trình sản xuất. Kết quả KHCN là một kho tàng quý giá của mỗi quốc gia, do đó, việc tổ chức, quản lý và kiểm soát nguồn thông tin tài liệu này cần được thực hiện thống nhất. 18 Nhận thức được tầm quan trọng của tài liệu khoa học - công nghệ, đã có nhiều văn bản được ban hành về quản lý tài liệu nói chung và tài liệu khoa học - công nghệ nói riêng.
Tuy vậy, những văn bản này thường thiên về việc tô chức lưu trữ và khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ. Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 quy định về đăng ký, lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm KHCN chỉ rõ: Kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước phải được đăng ký, lưu giữ tại cơ quan thông tin khoa học và công nghệ quốc gia và tại cơ quan có thâm quyền của bộ, ngành, địa phương chủ quản. Kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc danh mục bí mật nhà nước được đăng ký, lưu giữ theo chế độ mật. Kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước được khuyến khích đăng ký, lưu giữ tại cơ quan thông tin khoa học và công nghệ quốc gia hoặc cơ quan có thâm quyền của bộ, ngành, địa phương [33].
Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ quy định: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kề từ khi nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu chính thức, kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng nguồn ngân sách nhà nước phải đăng ký và lưu giữ tại cơ quan có thầm quyền về đăng ký và lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin khoa học công nghệ cấp bộ là cơ quan có thầm quyền về đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở; lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp bộ và cấp cơ sở thuộc phạm vi quản lý [14]. Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ, Nghị định của Chính phủ về hoạt động thông tin KHCN, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN ngày I1 tháng 6 năm 2014 Quy định về việc thu thập, 19 đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Thông tư chỉ rõ việc thu thập thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ và đăng ký, lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ: Kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã đăng ký là tài liệu chuyên môn nghiệp vụ có giá trị bảo quản vĩnh viễn, cần thiết cho hoạt động khoa học và công nghệ, được lưu giữ lâu dài và không phải chuyên vào lưu trữ lịch sử theo quy định của Điều 15 Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Luật lưu trữ.
Các cơ quan có thâm quyền về đăng ký và lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định có trách nhiệm tô chức kho lưu giữ và phục vụ việc khai thác, sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ [8]. Như vậy, tài liệu khoa học - công nghệ chính là nguồn thu thập và bảo quan quản trọng của nhà nước, là khối tài liệu có tính chuyên môn sâu, cần phải quản lý và khai thác sử dụng, có giá trị vĩnh viễn, cần thiết cho hoạt động KHCN. Nhận thức được tầm quan trọng của tài liệu khoa học - công nghệ, Viện Hàn lâm KH&CNVN đã ban hành nhiều văn bản quy định cụ thé về quản lý các đề tài, dự án và nhiệm vụ KHCN. Các văn bản quy định về giao nộp kết quả nghiên cứu, thành phần tài liệu trong dé tài, nhiệm vụ, dự án KHCN giao nộp, đơn vi thu tài liệu này, trong đó có một số văn bản quan trọng như: Quyết định số 1791/QD-VHL ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CNVN Ban hành Quy định quản lý các đề tài thuộc các hướng khoa học và công nghệ ưu tiên cap Viện Han lâm KHC&CNVN [38]; Quyết định số 2316/QĐ-VHL ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CNVN Ban hành Quy định quan lý các đề tài khoa học và 20 công nghệ độc lập cấp Viện Hàn lâm KH&CNVN dành cho cán bộ khoa học trẻ [40]; Và Quyết định số 2730/QD-VHL ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CNVN Ban hành Quy định quan lý các đề tài, dự án nhiệm vụ khoa học và công nghệ độc lập cấp Viện Hàn lâm KH&CNVN [41], Việc quản lý hồ sơ kết quả nghiên cứu được quy định như sau: Trung tâm Thông tin - Tư liệu (Viện Han lâm KH&CNVN) tiếp nhận: Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề tài, Biên bản đánh giá xếp loại đề tài, Kết luận của Hội đồng về kết quả chính của đề tài, Báo cáo về việc chỉnh sửa Báo cáo tông hợp kết quả thực hiện đề tài (ban in và bản điện tử).
Trung tam Tin hoc và Tính toán (Viện Han lâm KH&CNVN) tiếp nhận: Báo cáo tóm tắt thực hiện kết quả đề tài bằng tiếng Việt và tiếng Anh, Biên bản đánh giá xếp loại đề tài và Kết luận của Hội đồng về kết quả chính của dé tài (bản in và bản điện tử). Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam thu nhận các mẫu vật sau khi nghiệm thu dé tài. Việc quản lý các nhiệm vụ phát triển công nghệ cấp Viện Hàn lâm KH&CNVN quy định trong Quyết định số 1820/QD-VHL ngày 25 tháng 8 năm 2017: Đơn vị chủ trì các nhiệm vụ có trách nhiệm quản lý, khai thác, chuyền giao kết quả nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Việc đăng ký, lưu giữ kết quả nhiệm vụ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 14/2014/TT- BKHCN ngày 11 tháng 6 năm 2014 cua Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ quy định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ [39].
Nhìn chung việc quy định về quản lý tài liệu khoa học - công nghệ đã được quy định và áp dụng thực hiện với đề tài nghiên cứu khoa học nói chung và các đê tài nhiệm vụ thực hiện tại Viện Hàn lâm nói riêng. Nhưng, quản lý 21 tài liệu khoa học - công nghệ không phải chỉ dừng ở việc lưu giữ các thông tin, tư liệu. Thu thập, bảo quản, xây dựng hệ thống công cụ tra cứu và công bố thông tin tài liệu khoa học - công nghệ mới là mục đích cuối cùng của hoạt động quản lý nguồn tài liệu quý báu này. Trung tâm Thông tin - Tư liệu là đơn vị được giao nhiệm vụ tiếp nhận, thu thập, bảo quản và tô chức khai thác, sử dụng nguôn tài liệu phán ánh hoạt động nghiên cứu và quan lý khoa học của Viện Hàn lâm KH&KHVN.
Trung tâm Thông tin - Tư liệu chỉ thực hiện quản lý và xây dựng cơ sở dit liệu đối với các kết quả nghiên cứu khoa học từ các đơn vị giao nộp theo đúng quy định của Viện Hàn lâm KH&CNVN. Khối lượng lớn tài liệu khác vẫn phân tán tại các don vi trực thuộc. Từ thực tế hoạt động, Viện Nghiên cứu hệ gen thực hiện nhiều nhóm đề tài nghiên cứu khoa học khác nhau, từ đề tài nhiệm vụ độc lập cấp quốc gia, đề tài hợp tác quốc tế, đề tài thuộc các hướng khoa học công nghệ ưu tiên đến các nhiệm vụ phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực nghiên cứu của mình. Việc quản lý tài liệu khoa học - công nghệ tại Viện được thực hiện theo quy định chung của nhà nước và của Viện Han lâm KH&CNVN.