Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Luan van 8 Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn hàng nhập khẩu Châu Âu Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn hàng nhập khẩu Châu Âu Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Tùy theo cách tiếp cận và phân loại hiện nay, có thể chia NNL thành 2 loại chính là NNL xã hội và NNL trong tổ chức.
Nguồn nhân lực XH: Theo tác giả Nguyễn Tiệp trong Giáo trình nguồn nhân lực (2009) cho rằng NNL xã hội là “bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. Đây là “nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội” [29, tr. Theo nghĩa hẹp hơn thì nó bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Theo trạng thái hoạt động, NNL xã hội còn bao gồm NNL hoạt động kinh tế hay dân số hoạt động kinh tế và NNL dự trữ.
+ NNL hoạt động kinh tế: là NNL đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc nhưng có nhu cầu tìm việc làm. + Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người cũng trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì những lý do khác nhau mà họ không tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế (ví dụ như sinh viên mới tốt nghiệp; phụ nữ sinh con; bộ đội xuất ngũ;. * Nguồn nhân lực trong tổ chức NNL trong tổ chức nói chung và DN nói riêng là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Nó được coi là một tài nguyên quý báu nhất của doanh nghiệp [17, tr.
- Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu, cụ thể là: Luan van 10 - Căn cứ vào chức năng công việc đảm nhiệm, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được phân loại như sau: + Theo chức năng sản xuất, chế biến thì có: nhân công trực tiếp (là những lao động tham gia trực tiếp vào quá trình chế tạo sản phẩm) và nhân công gián tiếp (là những nhân công phục vụ cho những nhân công trực tiếp hoặc chỉ tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất). + Theo chức năng lưu thông, tiếp thị: bao gồm bộ phận bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu thị trường. + Theo chức năng quản lý hành chính: đây là bộ phận nhân công tham gia vào quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp. Ngoài ra còn có những cách phân loại khác tuỳ theo yêu cầu của quản lý như: phân loại lao động theo năng lực, theo trình độ chuyên môn,.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [16, tr. Con người là bộ phận cấu thành nên tổ chức. NNL của một tổ chức hay DN bao gồm tất cả những NLĐ đang làm việc hay có tham gia giải quyết các nhiệm vụ và công việc theo sự phân công của tổ chức đó và được trả công theo mức độ đóng góp. “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [10, tr.
Ở đây, có nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân người lao động và sức mạnh tiềm ẩn của NNL có thể có khi biết cách tạo động lực lao động. Khi đề cập đến NNL, Tổ chức Liên hợp quốc, có đưa ra định nghĩa khái quát: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực Luan van 11 có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người” [24, tr. “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức” [6, tr. Từ các khái niệm trên, theo tác giả Luận văn: NNL trong tổ chức là toàn bộ những người đang làm việc trong tổ chức đó, hay những người bên ngoài được tổ chức huy động mang tính ổn định lâu dài, tham gia giả quyết các nhiệm vụ và công việc mà tổ chức phân công, được tổ chức trả công theo thỏa thuận.
Từ khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của NNL trong tổ chức như sau: - NNL trong tổ chức là tất cả những người có tham gia vào các hoạt động của tổ chức đó; - NNL trong tổ chức có thể là những người đang thuộc biên chế, trong danh sách quản lý của tổ chức hay những người mà tổ chức đó có thể huy động trong một thời điểm nhất định nào đó mang tính ổn định, lâu dài (các công tác viên, lao động được thuê khoán theo công việc, được sử dụng theo mùa vụ, ngắn hạn, những người làm việc bán thời gian, những người thân của tổ chức làm việc hưởng lương hay không hưởng lương.Với nghĩa này, NNL không yêu cầu trong độ tuổi lao động, miễn là có khả năng lao động và có thể đóng góp sức lao động vào hoàn thành mục tiêu của tổ chức. - NNL trong tổ chức là NNL thực tế và lao động tiềm năng, rất đa dạng và phong phú, linh hoạt, một số loại lao động không yêu cầu phải chi phí nơi làm việc, giảm thiểu một số các chế độ theo quy định của nhà nước như: chế độ thai sản, BHXH, BHYT, BHTN…Nghĩa là ở góc độ nào đó giảm được chi phí sản xuất. - Mối quan hệ lao động cũng có những điểm khác so với lao động cố đinh, biên chế tùy theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng nhất là hợp đồng ngắn Luan van 12 hạn, mùa vụ, làm khán theo công việc, bán thời gian…và do đó, xét ở góc độ nào đó quản lý NNL này cũng sẽ khó khăn và phức tạp hơn. Tóm lại: “NNL trong DN là bao gồm tất cả nguồn lực của các cá nhân trong tổ chức hay những cá nhân có tham gia bất cứ hoạt động nào, với bất cứ vai trò gì trong tổ chức, DN, bao gốm tất cả các thành viên mà DN đang quản lý, sử dụng mang tính ổn định và lâu dài, kể cả những người trong và ngoài doanh nghiệp nhưng có tham gia vào hoạt động hay tham gia giải quyết những vấn đề của DN trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định” [10, tr.
Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Chất lượng nguồn nhân lực “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [30]. “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái nền bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [31]. Với góc độ hàng hóa, dịch vụ thì: “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” [12, tr.
Nói cách khác, “chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu nhất định về các thuộc tính bản chất của sự vật so với yêu cầu đặt ra”. Nó không phải là đại lượng bất biến, mà tùy theo yêu cầu đặt ra của người sử dụng thay đổi như thế nào trong từng thời điểm nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo tác giả Trần Khánh Đức: “NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc”.
Chất lượng NNL có thể được xem xét dưới góc độ của NNL tổng thể (của DN) và NNL cá nhân (khả năng, năng lực từng cá nhân). + Chất lượng nguồn nhân lực cá nhân: Hay khả năng của các cá nhân đáp ứng được các yêu cầu đề ra trên phương diện nhân lực (thể lực- trí lực, tâm lực),. Nói các khác là năng lực của cá nhân thể hiện trên các khía cạnh: trí Luan van 13 lực (trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật), thể lực (sức khoẻ, điều kiện để chăm sóc sức khoẻ,. + Chất lượng NNL trong tổ chức phản ánh mối quan hệ tương tác hữu cơ, sự kết hợp các sức mạnh tập thể của các cá nhân trong mối quan hệ để tạo nên sức mạnh tập thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức đặt ra.
Chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức phản ánh sự tương thích và mức độ đáp ứng, trước hết, về số lượng nhân lực bảo đảm tương thích với khối lượng công việc hay giữa “lượng người- lượng việc”; thứ hai, bảo đảm tương thích giưa chất lượng nhân lực với chất lượng, yêu cầu công việc hay phải “đúng người, đúng việc”; Thứ ba, cơ cấu lao động được bố trí một cách hợp lý giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh để đảm bảo nhịp độ trong mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ phân công. Từ những khái niệm trên, trong phạm vi khuôn khổ đề tài luận văn, theo quan điểm tác giả: Chất lượng NNL trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động của doanh nghiệp đó được biểu hiên thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tâm lực. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực doanh nghiệp. Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, ý thức tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực trí tuệ thành thực tiễn”.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nâng cao chất lượng NNL là sự biến đổi về chất lượng và cơ cấu NNL theo xu hướng tích cực ngày một tương thích để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu hoạt động của DN. Cụ thể, chất lượng nhân lực (tâm – thể- trí lực) của từng cá nhân ngày càng được nâng cao tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ mà cá nhân được giao.