ĐẶT VẤN ĐỀ Trong hệ thống y tế ở các Quốc gia, bệnh viện chiếm một vị trí quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Bệnh viện là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, nơi tiến hành các hoạt động chăm sóc sức khỏe và các nghiên cứu y sinh học. Trong các chức năng của bệnh viện, chức năng khám bệnh, chữa bệnh đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất. Hệ thống bệnh viện ở Việt Nam phân thành các tuyến nhƣ bệnh viện tuyến Trung ƣơng, bệnh viện tỉnh, bệnh viện huyện.
Các bệnh viện tuyến huyện là đơn vị y tế gần dân nhất tham gia giải quyết 80% nhƣ cầu khám chữa bệnh của ngƣời dân [38]. Ngoài ra còn có hệ thống y tế ngành trong đó có các bệnh viện ngành, các bệnh viện quân y… Bệnh viện Quân y 91 – Quân khu I (QKI) là bệnh viện đa khoa hạng 2, nằm trên địa bàn thị xã Phổ Yên, đƣợc thành lập từ ngày 12 tháng 9 năm 1965 do nhu cầu phục vụ Quân đội bảo vệ các tỉnh phía Bắc thuộc tuyến đƣờng chiến lƣợc quốc lộ số 3 và các đơn vị chủ lực phía bắc sông Hồng [8] , [20], [44]. Đến nay bệnh viện là một trong hai bệnh viện tuyến cuối của Q , đƣợc biên chế 140 giƣờng điều trị cho Quân đội và chính sách. Ngoài ra bệnh viện Quân y 91 còn tham gia KCB cho bệnh nhân có BHYT và dịch vụ cho nhân dân trên địa bàn đóng quân, nên số giƣờng triển khai trên thực tế là 290 giƣờng bệnh.
Hàng năm bệnh viện luôn bảo đảm công tác cấp cứu, KCB cho bộ đội QK và các đơn vị theo tuyến quân y. Ngoài ra bệnh viện còn KCB cho các đối tƣợng BHYT và nhân dân trong vùng lân cận thị xã Phổ Yên. Bệnh viện luôn chú trọng nâng cao chất lƣợng KCB phục vụ ngƣời bệnh. Nhìn chung, do mang những t nh đặc thù trên nên các bệnh viện Quân đội hiện nay vẫn tồn tại những vấn đề nhƣ thiếu cán bộ chuyên môn phù hợp với nhu cầu sức khỏe nhân dân trong khi nguồn tài chính hạn hẹp Về tổ chức quản lý phải điều hành bộ máy cồng kềnh, nhiều ban ngành mang đặc thù 2 Quân đội dẫn đến thiếu hụt nhân lực làm chuyên môn.
Cán bộ nhân viên thì quen đƣợc sống trong môi trƣờng bao cấp, nên ít năng động và thích nghi chậm với xu hƣớng phát triển của xã hội [29], [24]. Vì vậy vấn đề đặt ra là thực trạng tổ chức, hoạt động khám chữa bệnh tại ệnh viện Quân Y 91, Quân khu I hiện nay ra sao? yếu tố nào ảnh hƣởng đến tổ chức hoạt động khám chữa bệnh của ệnh viện và giải pháp nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh tại bệnh viện Quân Y 91, Quân khu tƣơng lai? Để trả lời các câu hỏi nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Thực trạng tổ chức, hoạt động khám chữa bện tạ ệnh viện Quân Y 91, Quân khu I và đề xuất giả p áp”, nhằm các mục tiêu sau: 1. Đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động há ch nh tại nh vi n Quân Y 91, Quân hu I nă 2015. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động khám ch a b nh của nh vi n và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng khám ch a b nh tại b nh vi n Quân Y 91, Quân khu I.
3 C ƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng tổ chức, hoạt động á c ữ ện tạ các Bện v ện 1. Tình hình tổ chức và hoạt động khám chữa bệnh tại Việt Nam hiện nay 1. Tình hình tổ chức Theo báo cáo thống kê của Cục Quản lý Khám chữa bệnh, t nh đến thời điểm 31/12/2013 trên toàn quốc có tổng số các loại hình bệnh viện, cơ sở điều dƣỡng –Phục hồi chức năng trong hệ thống (không bao gồm các bệnh viện Quân đội) là 1.
Tổng số giƣờng bệnh kế hoạch là 199.011 giƣờng bệnh công lập và tƣ nhân (chƣa bao gồm nhà hộ sinh, phòng khám, đa khoa, trạm y tế xã). Số bệnh viện tƣ nhân 150 bệnh viện (bao gồm bệnh viện tƣ, bệnh viện bán công và bệnh viện có 100% vốn nƣớc ngoài) với tổng số 9.611 giƣờng bệnh [34], [47]. Tổng số giƣờng bệnh liên tục gia tăng qua các năm. Đến năm 2014, tỷ lệ giƣờng bệnh thực kê trên vạn dân là 28,1, tăng 3,4 giƣờng so với năm 2012 [47] Bảng 1.
Một số chỉ số hoạt động chuyên môn b nh vi n nă 2010 – 2011 Năm 2010 Năm 2011 So sánh TT Các chỉ số hoạt tăng SL % SL % động (giảm) I TS lần khám bệnh 205.816 3,30 + 0,30 3 Tỉnh/thành phố 190.516 91,85 - 1,23 II Tống số lƣợt điều 11.560 trị nội trú 1 Trung ƣơng 907.434 4,01 + 0,08 3 Tỉnh/thành phố 10.256 88,00 - 0,23 4 Năm 2010 Năm 2011 So sánh TT Các chỉ số hoạt tăng SL % SL % động (giảm) III Tổng số lƣợt điều 32.797 trị ngoại trú 1 Trung ƣơng 1.095 0,56 - 0,69 3 Tỉnh/thành phố 31.170 95,03 - 0,12 IV Tổng số ngày điều 85.779 trị nội trú 1 Trung ƣơng 9.113 3,85 + 0,2 3 Tỉnh/thành phố 72.890 85,14 - 0,22 IV Ngày điều trị trung 7,35 6,83 bình 1 ngƣời bệnh nội trú 1 Trung ƣơng 10,30 9,41 2 Y tế ngành 11,00 6,55 3 Tỉnh/thành phố 7,11 6,61 V Công suất sử dụng 116,60 111,74 giƣờng bệnh điều trị nội trú 1 Trung ƣơng 124,03 119,10 2 Y tế ngành 90,23 104,30 3 Tỉnh/thành phố 117,16 111,35 Nguồn: Niên giám thống kê y tế nă 2012 - Bộ y tế [14] Tỷ lệ bệnh viện tƣ và giƣờng bệnh tƣ của Việt Nam là rất thấp so với các nƣớc trong khu vực nhƣ Thái Lan (30% và 22,5%), ndonesia (42% và 32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%) [47]. Nhìn chung các bệnh viện Việt Nam có quy mô nhỏ. Số bệnh viện dƣới 100 giƣờng chiếm gần 70% (570 bệnh viện). Số bệnh viện có quy mô 101 - 300 giƣờng chiếm 20% (165 bệnh viện); số giƣờng từ 300 - 500 giƣờng chiếm 7,2%; số từ 501 - 700 giƣờng chiếm 2,4% (20 bệnh viện).
Có 8 bệnh viện trên 700 giƣờng, khoảng 1%, trong đó có 3 bệnh viện có quy mô trên 5 1.000 giƣờng là Bạch Mai, Trung ƣơng Huế và Chợ Rẫy [33]. So với quy mô giƣờng bệnh của các bệnh viện của một số nƣớc trong khu vực cũng rất khác nhau: số giƣờng bình quân của bệnh viện ở Malaysia là 288 giýờng, của Trung Quốc là 138,7. Theo số liệu năm 2008 của 932 bệnh viện có báo cáo, trong đó có 559 bệnh viện tuyến huyện, thị thì năm 2008 số giƣờng tại các bệnh viện tuyến huyện chiếm 35,1 %, số lƣợt khám bệnh tại tuyến huyện chiếm 49,9 %, số lƣợt điều trị ngoại trú là 42,8%, số lƣợt điều trị nội trú là 40,2%, công suất sử dụng giƣờng bệnh bình quân tại các bệnh viện tuyến huyện là 101% [12]. Nhân lực y tế Nhân lực y tế có vai trò quyết định và quan trọng trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Nhìn chung, nếu tính theo con số trung bình trên cả nƣớc, đến năm 2015, Việt Nam đã đạt đƣợc các chỉ tiêu cơ bản về nhân lực đã đặt ra trong kế hoạch 5 năm, hoàn toàn phù hợp thông tƣ hƣớng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nƣớc , [47] , [4]. Đào tạo sau đại học (bác sĩ chuyên khoa , , nội trú, thạc sĩ và tiến sĩ) cho cán bộ y tế đƣợc tăng cƣờng ở tất cả các loại hình. Theo niên giám thống kê y tế, số lƣợng học viên sau đại học tốt nghiệp năm 2010 chỉ là 3378 ngƣời đã tăng lên 4680 ngƣời vào năm 2013 [47], [4]. Tài chính y tế Dự toán chi ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) cho y tế tăng (8,2% DP năm 2014 so với 7,7% năm 2010).
Tổng chi công cho y tế tăng bình quân 10,2% sau khi đã loại trừ yếu tố lạm phát, cao hơn so với mức tăng chi NSNN. ảo hiểm y tế ( HYT) gia tăng cả về tỷ lệ bao phủ và mức ph bình quân đầu thẻ. Quỹ PCTHTL bắt đầu đƣợc sử dụng cho các hoạt động. Các đề án 47, 930 đƣợc cấp kinh phí từ trái phiếu chính phủ để nâng cấp cơ sở y tế.
Nguồn viện trợ vẫn duy trì ở mức 2% tổng chi y tế [47]. Phát triển BHYT toàn dân Hệ thống chính sách, pháp luật về HYT đƣợc hoàn thiện dần, Luật sửa đổi, bổ sung Luật HYT đƣợc thông qua. Tỷ lệ bao phủ HYT tăng bình quân 4,3%/năm và đạt 75,3% vào năm 2015. Mức hỗ trợ đóng HYT cho các hộ gia đình cận nghèo tăng từ 50% lên 70%.
Kinh phí từ NSNN hỗ trợ mua HYT cho đối tƣợng ch nh sách tăng dần, chiếm 20% tổng NSNN cho y tế. Quyền lợi của ngƣời có thẻ HYT cũng đƣợc tăng lên. Mức đồng chi trả đã đƣợc điều chỉnh giảm đối với một số nhóm. Năm 2012, số lƣợt khám bệnh trung bình/ngƣời có thẻ HYT tăng 8,5% so với năm 2010 [47].
Tiếp cận dịch vụ khám ch a b nh Ngƣời dân đã tiếp cận và sử dụng nhiều hơn dịch vụ KCB tại mạng lƣới YTCS, nhờ việc thực hiện một số giải pháp nâng cấp và cải thiện về cơ sở vật chất, TTB, tài chính. Một số dịch vụ kỹ thuật, thuốc thuộc tuyến trên cũng đã dần đƣợc triển khai tới tận tuyến huyện, xã. Kết quả là có sự gia tăng đáng kể việc sử dụng dịch vụ KCB tại bệnh viện đa khoa huyện, phòng khám đa khoa khu vực và TYT xã. Theo kết quả Khảo sát Mức sống dân cƣ qua các năm, tỷ lệ lƣợt ngƣời sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện năm 2010 là 17,6%, cao hơn so với tỷ lệ 11,9% vào năm 2004; số lƣợt điều trị nội trú tại các bệnh viện đa khoa huyện đã gia tăng đạt tỷ lệ 38,2% vào năm 2010, so với 35,4% vào năm 2004.
Tuy nhiên, tại TYT xã, tỷ lệ lƣợt KCB ngoại trú lại giảm từ 26% vào năm 2008 xuống 23,8% vào năm 2012 .T nh đến năm 2014, đã triển khai KCB BHYT tại 80% tổng số TYT xã, tỷ lệ thẻ HYT đăng ký C ban đầu tại TYT xã chiếm 41% và tại bệnh viện huyện chiếm 45% tổng số thẻ đăng ký C ban đầu. Hoạt động KCB bằng YHCT tiếp tục phát triển. Năm 2014, các cơ sở KCB tuyến huyện và xã đã thành lập các tổ YHCT. Tỷ lệ điều trị ngoại trú bằng YHCT so với tổng điều trị ngoại trú chung ở tuyến xã là 26,8% [47].
7 Theo nghiên cứu của Phan Trọng Quyền tại bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang, số lƣợt khám bệnh /ngày là 588 lƣợt.