CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Từ cuối thế kỷ 18, hoạt động CVHT trong trường học xuất hiện tương đối sớm khi các trường ĐH, CĐ đầu tiên được thành lập ở Mỹ như Harvard, William, Mary, Yale,… hoạt động CVHT đã bắt đầu được hình thành [45]. Borgard (1981), Creamer (2000), Hagen (2005) cho rằng, để hoạt động CVHT được tiến hành bài bản và trở thành một phần quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu, đòi hỏi phải có một nền tảng lý luận cụ thể [53, tr.
Theo đó, các quan điểm, lý thuyết về sự phát triển của người học đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động CVHT, cụ thể: Lý thuyết hình thành tâm lý xã hội của Erikson (1963) dựa trên 8 giai đoạn phát triển của con người để chỉ ra 8 giai đoạn khủng hoảng mà SV phải đối mặt trong quá trình học tập. Theo đó, nếu có những hỗ trợ tích cực sẽ giúp SV giải quyết được khủng hoảng trong giai đoạn hiện tại, phát triển sang giai đoạn kế tiếp. Ngược lại, khi khủng hoảng chưa được giải quyết, có thể làm gián đoạn sự phát triển của SV [53, tr. Lý thuyết 7 vector của Chickering và Reisser (1993) cho thấy sự thay đổi về mặt tâm lý xã hội của SV.
Trong những năm đầu ĐH là thời gian để khám phá 3 vector đầu tiên, những năm học tiếp theo SV có thể đối mặt với vector thứ 4, 5 và có thể là thứ 6, 7 ở bậc học cao hơn. Lý thuyết của Chickering và Reisser cho thấy vai trò CVHT là nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ, giúp SV phát triển thông qua hỗ trợ giải quyết những vấn đề trong quá trình trải nghiệm 7 vector: Phát triển cạnh tranh; QL cảm xúc; Hoạt động tự giác để đạt được sự độc lập; Phát triển mối quan hệ liên cá nhân; Nhận diện bản thân; Phát triển mục tiêu; Phát triển toàn diện [53, tr.53-56] Dựa trên sự khác biệt của mỗi cá nhân thông qua xu hướng phản ứng trước kích thích từ môi trường bên ngoài và xu hướng sử dụng những nguồn hỗ trợ sẵn có, nhóm tác giả Myers-Briggs (Myers & McCauley, 1985) phân loại cá nhân theo 7 Luan van các cặp đặc điểm tính cách cơ bản: hướng ngoại hay hướng nội; cảm giác hay trực giác; lý tính hay cảm tính; nguyên tắc hay linh hoạt [46, tr. Đề xuất này của Kolb không chỉ giúp người dạy có định hướng rõ ràng trong việc giáo dục SV, vì không phải tất cả các SV đều có cùng một phong cách học tập, mà còn rất quan trọng trong cách tiếp cận của người cố vấn đối với vấn đề học tập, định hướng nghề nghiệp và các vấn đề về cá nhân của SV [53, tr. Có thể thấy, các lý thuyết trên đây tập trung vào phân loại cá nhân theo từng khía cạnh tâm lý (bên trong), mỗi khía cạnh sẽ quy định tính chất hành động cũng như sự phát triển của cá nhân.
Khi đó, yếu tố xã hội (bên ngoài) giữ vai trò là nhân tố tác động lên các khía cạnh này, gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực trong quá trình phát triển của người học. Hoạt động CVHT thuộc yếu tố bên ngoài tác động đến quá trình học tập của SV, do đó, CVHT phải luôn dựa trên những nhu cầu, đặc điểm riêng có, tôn trọng sự khác biệt của từng người học để xem xét, quyết định nội dung tư vấn, hỗ trợ cho phù hợp. Phát triển nội dung các quan điểm, Crookston (1972) cho rằng hoạt động tư vấn phải tạo điều kiện cho người học tương tác với môi trường xung quanh, giữa các cá nhân với nhau, hình thành kỹ năng về nhận thức, đánh giá hành vi, ra quyết định và giải quyết vấn đề cho người học [53, tr. Chickering (2006) cũng thống nhất rằng, để đảm bảo về sự cam kết thành công của SV, CVHT phải hướng tới sự phát triển của SV về nhiều mặt bao gồm phát triển học thuật, cá nhân, trí tuệ và xã hội [53, tr.
Bên cạnh việc xây dựng nền tảng lý luận, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến những vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạt động CVHT. Theo Brian Gillispie (2009), với sự gia tăng của các trường ĐH trong suốt thế kỷ 19, hoạt động CVHT đã được định hình rõ ràng hơn trong việc CVHT hướng dẫn SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực, SV cũng tìm đến CVHT để tìm hiểu các vấn đề về sự công bằng, trách nhiệm xã hội, ngành 8 Luan van nghề,. Đặc biệt, chức danh CVHT chính thức xuất hiện khi hình thức đào tạo theo HCTC ra đời [45]. Nhà nghiên cứu Lee, Courtland C.
(2001) cũng đã có bài viết về hoạt động CVHT trong sự đa dạng văn hóa tại Hoa Kỳ hiện nay. Theo tác giả, trong số các vấn đề mà CVHT phải đối mặt, việc đáp ứng số lượng ngày càng tăng của SV từ các nền văn hóa khác nhau có lẽ là thách thức lớn nhất. Nguyên nhân một phần là do các dịch vụ tư vấn trường học hiện nay thường không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học [47]. Bài viết của tác giả L.
Nhóm tác giả Carlson, Laurie A; Portman, Tarrell Awe Agahe; Bartlett, Jan R (2006) tiến hành một cuộc khảo sát với 381 CVHT trong trường học ở các bang Colorado, Iowa và New York về việc sử dụng công nghệ vào công tác tư vấn cho SV ở Mỹ. Kết quả cho thấy, việc tiếp cận công nghệ vào công tác tư vấn ở trường chuyên nghiệp rất hiệu quả đồng thời được sự ủng hộ cao của các cố vấn [43]. Lý thuyết nhân cách của John Holland (1919-2008) nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa kiểu nhân cách của cá nhân và kiểu nghề nghiệp trong xã hội. Chúng bao gồm 6 kiểu người trong xã hội; 1/Kỹ thuật (Realistic-R): đó là người thực tế.
2/Nghiên cứu (Investigative-I): người có cá ính độc lập, ham hiểu biết, có khả năng định hướng, tự học, tự tổ chức nghiên cứu, khả năng phân tích, viết, toán học. 3/Nghệ thuật (Artistic-A): đó là người sáng tạo, độc lập, độc đáo, sức tưởng tượng phong phú, khả năng âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật. 4/Xã hội (Social-S) là người thích hợp tác, rộng lượng, ưa phục vụ người khác, có kỹ năng nghe, nói, giảng giải và các kỹ năng làm việc với người khác. 5/Chỉ đạo (Enterprising-E) là kiểu người quyết đoán, tự tin, năng động, thích giao lưu, ưu mạo hiểm, có khả năng 9 Luan van gây ảnh hưởng đến người khác.
6/Tổ chức (Conventional-C): là người có tổ chức, ngăn nắp, tỉ mỉ, chính xác, tin cậy, ổn định, hiệu quả, có khả năng làm việc với các dữ liệu, số liệu. Lý thuyết về kiểu nhân cách theo nghề nghiệp của John Holland rất thích hợp với hoạt động CVHT. Việc CVHT nắm được các đặc điểm nghề nghiệp trong xã hội và đặc điểm nhân cách của SV có hiệu quả về việc luwacj chọn nghề nghiệp cho SV. Có thể thấy, hoạt động CVHT đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ khá sớm và đã hình thành một nền tảng lí luận cho hoạt động, tuy nhiên chỉ đến khi HCTC xuất hiện thì những tên gọi và các yêu cầu, quy định liên quan đến hoạt động này mới dần được hoàn thiện.
Đó là một chặng đường dài để nghiên cứu và phát triển. Hiện nay, các tác giả cũng đã mở rộng việc tìm hiểu những vấn đề hoạt động CVHT phải đối mặt như sự đa dạng trong văn hóa, những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của SV, hay là việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động CVHT,… 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Những năm gần đây, hoạt động CVHT được các trường ĐH, CĐ tại Việt Nam quan tâm thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình đào tạo theo HCTC. Đã có nhiều bài viết điển hình trên các sách, báo, tạp chí, websites, kỷ yếu hội thảo,… liên quan đến hoạt động CVHT.
Tuy nhiên, do còn khá mới mẻ nên các nghiên cứu được giới thiệu sau đây chủ yếu tập trung về vai trò và nhiệm vụ CVHT trong công tác hỗ trợ, tư vấn cho SV, ngoài ra, còn có một vài công trình nghiên cứu về thực trạng hoạt động này tại các trường. Nghiên cứu về vai trò và nhiệm vụ của CVHT trong nhà trường Tác giả Trần Văn Hùng (2010) đã khẳng định CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của SV, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập. Tác giả cho rằng, đội ngũ CVHT cần có các chức năng: tư vấn, định hướng, giám sát hoạt động học tập và hướng nghiệp của SV; tham mưu cho lãnh đạo trường, khoa và bộ môn các vấn đề liên quan đến công tác QL đào tạo, nghiên cứu khoa học [20]. 10 Luan van Bàn về nội dung của công tác CVHT tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã đi sâu vào phân tích vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ làm công tác tư vấn đó là: Giúp sinh viên chọn chuyên ngành chính.
Tác giả cho rằng vai trò của đội ngũ làm công tác tư vấn học tập rất quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên thấy được điểm mạnh, điểm yếu của mình để lựa chọn các chuyên ngành phù hợp Giúp sinh viên lựa chọn, bổ sung hoặc thay thế hoặc bỏ các môn học. Tác giả cho rằng sinh viên không có đủ kiến thức và kinh nghiệm để chọn các môn học phù hợp cho chuyên ngành của mình vì vậy sự tư vấn của cố vấn học tập trong trường hợp nầy rất cần thiết. Để sinh viên tích lũy đủ số tính chỉ và tốt nghiệp đúng thời hạn cố vấn học tập phải lưu trữ hồ sơ, kiểm tra chương trình học của sinh viên đại học năm thứ ba và nhắc nhở các em các môn học còn lại mà các em phải học. Đồng thời cố vấn học tập còn phải giúp sinh viên tiếp cận với các nguồn lực để gặt hái thành công cả trong và ngoài giảng đường [14, tr.
Nhấn mạnh về nhiệm vụ tư vấn cho người học, Huỳnh Xuân Nhựt (2010) khẳng định tư vấn cho sinh viên trong quá trình học tập tại trường ĐH, CĐ là khâu vô cùng quan trọng và cần thiết trong quy trình đào tạo theo học chế tín chỉ. Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, khâu này chỉ có thể thực hiện tốt ở cấp khoa với sự tham gia của Ban Chủ nhiệm khoa và đội ngũ giảng viên cơ hữu vì đây là đội ngũ hiểu rõ nhất và có chuyên môn nhất đối với các môn học và chương trình đào tạo của khoa [24].