Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lược sử nghiên cứu về dạy học theo dự án 1. Những nghiên cứu trên thế giới Hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc dạy học dự án. Knoll, từ “project” được sử dụng đầu tiên trong học viện nghệ thuật Accademia di San Luca ở Ý cuối thế kỉ XVI.
Ở học viện, quan điểm dự án học tập bắt đầu từ các cuộc thi mang tính thách thức, giải quyết các vấn đề đang tồn tại trong thực tế, sản phẩm được học sinh thiết kế và hoàn thiện đúng thời gian quy định. Sau đó, mô hình đào tạo này của Ý được cải tiến, phát triển ở Pháp (1671) cùng các nước Châu Âu và Mĩ từ thế kỉ XVIII (Michael Knoll, 1997). Cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, DHDA đã trở thành quan điểm dạy học được áp dụng vào các trường cao đẳng và đại học: Trung tâm Nghệ thuật và Chế tạo ở Paris (1829), trường Bách khóa Ducal ở Karlsruhe (1833) và viện Công nghệ Massachusetts ở Boston (1864) (Michael Knoll, 1997). Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, quan điểm DHDA lan đến nhiều nước, đặc biệt là Mĩ với các phong trào cải cách giáo dục mạnh mẽ.
Trong các phong trào cải cách giáo dục với mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm, DHDA được đưa vào sử dụng chính thức trong dạy học phổ thông nhằm khắc phục những nhược điểm của dạy học truyền thống. Ban đầu, quan điểm DHDA được sử dụng trong dạy học các môn Kỹ thuật, sau đó được sử dụng rộng rãi ở các môn học khác. Trong thời gian này, John Dewey (1859 – 1952) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho quan điểm DHDA. Theo quan niệm của ông, lớp học là môi trường với học sinh là trung tâm, dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh có thể tư duy thông qua hành động, nhận biết, tranh luận và giải quyết vấn đề, nhấn mạnh thực tiễn quan trọng hơn lý thuyết.
John Dewey đã dạy thử nghiệm lần đầu tiên quan điểm DHDA tại một trường Đào tạo thủ công bang Chicago ở Mĩ. Ông chia học sinh thành các nhóm nhỏ để thực hiện các dự án khác nhau mà thông qua đó học sinh sẽ học được cách đọc, viết, tính toán, 9 biết lắng nghe người khác, khám phá kiến thức, biết cách chia sẻ công việc và làm việc nhóm… để hoàn thành mục tiêu chung. Từ thực nghiệm đó, theo ông, lý thuyết đã không còn là nhân tố chính trong các hoạt động dạy – học, mà các hoạt động thực tiễn sẽ đóng vai trò chủ đạo. Như vậy, John Dewey là một trong những người đầu tiên có cái nhìn tổng quan toàn bộ về quan điểm dạy học dự án (Michael Knoll, 1997).
Năm 1918, William Heard Kilpatrick trở nên nổi tiếng khi đưa ra khái niệm “quan điểm dự án học tập” và phổ biến trên toàn thế giới. Kilpatrick nhận định “tâm lý đứa trẻ” là yếu tố quan trọng trong quá trình học tập. Tuy nhiên, nhận định của ông và John Dewey có nhiểu điểm khác biệt. Với John Dewey, ông nhấn mạnh vai trò của giáo viên và cho rằng trẻ em chưa đủ khả năng tự lập kế hoạch.
Trong khi đó, Kilpatrick không đề cao vai trò của giáo viên, ông nhận định nên để trẻ em tự do lựa chọn làm những gì chúng thích để đạt được mục tiêu đề ra (Michael Knoll, 1997). Tóm lại, John Dewey và Likpatrick đều là những nhà sư phạm đi đầu trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho quan điểm DHDA ngày nay. Sau một khoảng thời gian gần như bị lãng quên ở những năm trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, bắt đầu từ những năm 1970, cùng với phong trào cải cách giáo dục diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương Tây, DHDA cũng được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng tại nhiều quốc gia. Các nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận quan điểm dạy học dự án.
Theo các nhà sư phạm Mỹ: DHDA là quá trình mô phỏng và giải quyết các vấn đề thực tế. Trong đó học sinh tự lựa chon đề tài và thực hiện các dự án học tập dựa trên sở thích và khả năng của bản thân. Các dự án học tập không chỉ giúp các học sinh học tốt bài trên lớp mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi lớp học khi các em được phát huy trí thông minh để hoàn thành dự án (Joseph C. Theo tổ chức giáo dục Oracle (Mỹ): “Dạy học theo dự án là một phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó học sinh đưa ra sáng kiến và thực hiện xây dựng phiếu hỏi, thu nhập thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra những nhận định, kết luận về các vấn đề cụ thể” (Phạm Hồng Bắc, 2013, tr 30).
Vậy đối với giáo dục Mỹ, DHDA nhấn mạnh khả năng sáng tạo, chủ động xây dựng và tổng hợp kiến thức nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những kĩ năng thực 10 tế. Theo Bộ Giáo dục Singapore: DHDA là một hoạt động học tập cho phép học sinh xây dựng và tổng hợp kiến thức từ nhiều chuyên ngành học tập khác nhau và áp dụng các kiến thức này một cách sáng tạo vào thực tế. Trong quá trình học tập theo dự án, học sinh sẽ được rèn luyện và củng cố các kiến thức cũng như các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, thuyết trình và học tập độc lập… giúp các em có được những hành trang cần thiết trước những thử thách trong cuộc sống (Joseph C. DHDA được được đưa vào trong chương trình giảng dạy từ cấp tiểu học đến các trường đại học để giúp học sinh khám phá, lĩnh hội và tạo sự liên kết giữa các kiến thức, hình thành các kỹ năng sống để đạt được các mục tiêu đề ra.
Các nghiên cứu DHDA không chỉ tìm hiểu các khái niệm mà còn làm rõ các tiến trình thực hiện dự án. Theo quan điểm của K. Frey (Silke Traub, 2012), tiến trình thực hiện dạy học dự án được chia thành 7 phần: - Đề xuất dự án: Hình thành các ý tưởng cho dự án, các ý tưởng này có thể do giáo viên, phụ huynh hoặc học sinh đề xuất. Sau đó, mọi người sẽ cùng nhau thảo luận các ý tưởng, lựa chọn các chủ đề và lên kế hoạch thực hiện.
- Phát triển dự án: Tất cả những người tham gia dự án phải cùng nhau lên kế hoạch thực hiện dự án một cách chi tiết. Các thành viên tham gia phải có khả năng bày tỏ quan điểm và yêu cầu của mình khi thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Trong quá trình làm việc, học sinh sẽ được rèn luyện các kỹ năng và nhận ra các khuyết điểm. - Thực hiện dự án: Các thành viên thực hiện các công việc theo kế hoạch dự án đã đề ra và hoàn thành những nhiệm vụ được giao.
- Hoàn thành dự án: học sinh tạo ra sản phẩm để so sánh với mục tiêu ban đầu đề ra. Sản phẩm có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh nhưng thông qua những sai lầm khi thực hiện dự án, học sinh sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm. - Điểm cố định: Điểm cố định là cần thiết và xảy ra theo yêu cầu trong quá trình của dự án. Là hoạt động khắc phục những học sinh mất phương hướng, thiếu sự phối hợp với các cá nhân khác và nhóm khi thực hiện dự án.
Mục đích chính của điểm cố định là giúp các thành viên tham gia dự án thông tin lẫn nhau, cùng nhau 11 lên kế hoạch cho các bước tiếp theo, điều chỉnh thay đổi mục tiêu. - Metainteraktion /Zwischengespräche (có nghĩa là metainteraction trong tiếng Anh): trao đổi sau dự án để thảo luận, rút ra kết luận và điều chỉnh dự án. Bên cạnh những nghiên cứu về cơ sở lý luận của DHDA, vấn đề vận dụng DHDA cũng rất được quan tâm. DHDA được áp dụng trọng mọi cấp học, từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cũng như trong đào tạo đại học, trong các môn học hay ngành học.
DHDA được sử dụng khá phổ biến tại nhiều nước trên thế giới như Mĩ, Hà Lan, Canada, Hồng Kong, Singapo, Thái Lan… Vì vậy tổ chức giáo dục Oracle Buck Institute for Education đã đưa ra 10 lý do chứng tỏ giáo viên nên lựa chọn quan điểm DHDA (“Top 10 Reasons Why Teaching Key Competencies with Project Based Learning is a Good Idea”): 1) Học sinh sẽ được chuẩn bị tốt hơn cho đại học, nghề nghiệp và quyền công dân. 2) Học sinh có khả năng hiểu và nhớ nội dung học tập tốt hơn. 3) Điểm kiểm tra sẽ ổn và học sinh sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn học tập khắt khe. 4) Học sinh quản lý thời gian của cá nhân tốt và hiệu quả hơn.
5) Học sinh sẽ học được cách làm việc nhóm cùng nhau. 6) Học sinh phát triển được kỹ năng thuyết trình và kỹ năng giao tiếp. 7) Học sinh sẽ gắn kết và có tính thần trách nhiệm hơn. 8) Sự sáng tạo của học sinh có thể dẫn đến những cải tiến trong cộng đồng.
9) Gia đình và cộng đồng xung quanh có thể chia sẻ, đóng góp ý tưởng xây dựng dự án. 10) Học sinh sẽ hào hứng khi trả lời câu hỏi: “Bạn đã làm được gì tại ngôi trường của bạn?” DHDA là một quan điểm dạy học tích cực, giúp người học tích cực chủ động, kích thích tư duy bậc cao, giúp học sinh dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống thực tiễn được các nước trên thế giới công nhận và thực hiện rộng rãi trong hệ thống giáo dục. Chính những ưu điểm đặc biệt đó giúp quan điểm DHDA nhận được nhiều sự 12 quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Những nghiên cứu tại Việt Nam Hiện nay, DHDA đang được áp dụng khá rộng rãi ở các trường Cao đẳng và Đại học, DHDA được áp dụng thông qua các đồ án tốt nghiệp, các bài tiểu luận hay khóa luận… Trong các hình thức này, sinh viên thực hiện nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Trong giáo dục phổ thông, băt đầu từ những năm 1960 - 1980, cùng với sự phát triển của các phong trào hướng nghiệp, nhiều trường học đã thực hiện các dự án nhỏ như dự án trồng cây, dự án phát triển vườn trường, dự án khởi nghiệp…. Cho đến nay, DHDA dần được sử dụng ở các cấp học. Tại Việt Nam những năm gần đây, với những ưu điểm vượt trội, quan điểm DHDA đã thu hút được nhiều sự chú ý các nhà nghiên cứu cũng như được đề cập nhiều hơn trong các tài liệu Tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau giúp hệ thống hóa cơ sở lý luận DHDA khá đầy đủ và chi tiết.