Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng cán bộ y tế ở tuyến cơ sở. Chương 2: Phƣơng pháp và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng chất lƣợng cán bộ y tế và các yếu tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng cán bộ y tế tuyến cơ sở tại tỉnh Vĩnh Phúc Chương 4. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ Y TẾ Ở TUYẾN CƠ SỞ 1.
Tổng quan về cán bộ y tế tuyến cơ sở 1. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Và cán bộ, công chức, viên chức đều là những ngƣời đang thi hành công vụ hay dịch vụ công [2]. CBYT là những ngƣời đƣợc các cơ quan nhà nƣớc tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc trong các cơ quan y tế hoặc các vị trí trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới sức khỏe của ngƣời dân.
Nhiệm vụ của cán bộ y tế CBYT có nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho những ngƣời đang có vấn đề về sức khỏe. Ngày nay, khi kinh tế phát triển thì song song với việc khám chữa bệnh, cán bộ y tế còn có nhiệm vụ quan trọng nữa là phòng bệnh cho nhân dân. Đó chính là công việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) cho nhân dân. Mỗi CBYT nhƣ là một tuyên truyền viên, họ cần cung cấp các kiến thức cơ bản cho ngƣời dân để tự họ có thể chăm sóc sức khỏe của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Hệ thống y tế tuyến cơ sở Y tế cơ sở (YTCS) bao gồm: y tế tuyến huyện và y tế tuyến xã. YTCS chịu trách nhiệm thực hiện trực tiếp các nội dung y tế cơ bản bao gồm: Giáo dục y tế; Tiêm chủng, tiêm phòng dịch; Chăm sóc bà mẹ trƣớc và sau khi sinh; Chăm sóc trẻ em sau khi sinh; Chế độ dinh dƣỡng; Nƣớc sạch; Cung cấp thuốc chữa trị các bệnh đơn giản. YTCS có vị trí quan trọng trong công tác CSSKBĐ cho nhân dân vì: - YTCS là đơn vị y tế gần dân nhất nên phát hiện ra những vấn đề sức khỏe sớm nhất.
- YTCS là nơi trực tiếp thực hiện và kiểm nghiệm các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về y tế. - YTCS là nơi thể hiện rõ nhất sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe. - YTCS là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế tham gia phát triển kinh tế và ổn định chính trị, xã hội. Vai trò, nhiệm vụ của tuyến y tế cơ sở Vai trò của YTCS là cơ quan y tế thay mặt Nhà nƣớc để tuyên truyền cho nhân dân các vấn đề liên quan đến sức khỏe.
YTCS là cơ quan bảo trợ cho ngƣời dân về vấn đề sức khỏe. Nhiệm vụ của YTCS là khám, chữa bệnh thông thƣờng cho ngƣời dân, phát hiện sớm các trƣờng hợp bệnh nặng để chuyển tuyến đúng thời điểm, phát hiện các ổ dịch trong cộng đồng để bao vây và dập tắt dịch, thực hiện các chƣơng trình y tế quốc gia về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Đặc điểm của ngành y tế ảnh hƣởng tới việc nâng cao chất lƣợng của CBYT 1. Thời gian đào tạo cán bộ y tế dài hơn các ngành khác Thời gian đào tạo nhân viên y tế (NVYT) thƣờng dài hơn nhiều so với các ngành khác.
Thời gian đào tạo bác sỹ là 6 năm, dƣợc sỹ là 5 năm, đặc biệt bác sỹ nội trú là 9 năm trong khi đó các ngành khác chỉ từ 4 đến 5 năm. Đảng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 và Nhà nƣớc ta cũng đã xác định: "nghề y là một nghề đặc biệt, vì vậy cần được đào tạo và sử dụng một cách đặc biệt" (Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 23/2/2005). Tính chất đặc biệt trong đào tạo nhân viên y tế còn biểu hiện qua quá trình đào tạo lý thuyết phải gắn liền với kỹ năng thực hành trên ngƣời bệnh. Do đó, trong quá trình học thì học sinh, sinh viên ngành y phải học cả sáng, chiều và đi trực tối, trong khi các ngành khác chỉ học sáng hoặc chiều.
Có nhƣ thế nhân viên y tế sau khi ra trƣờng mới nhanh chóng phát huy đƣợc năng lực trong công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Đào tạo kỹ năng liên tục và kéo dài, có nhiều nguy cơ Ngƣời CBYT ngoài việc áp dụng các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đã đƣợc đào tạo vào thực hiện nhiệm vụ, còn phải đƣợc đào tạo kỹ năng ứng xử với ngƣời bệnh tại bệnh viện, sử dụng các máy móc, thiết bị y tế ngày càng hiện đại. Cùng với sự phát triển và không ngừng đổi mới, hiện đại hơn nên ngƣời CBYT cũng cần phải liên tục cập nhật kiến thức để áp dụng các tiến bộ đó vào chăm sóc và điều trị sức khỏe cho con ngƣời. Trong thời đại khoa học phát triển nhƣ vũ bão hiện nay đòi hỏi ngƣời CBYT phải nâng cao mình thông qua việc rèn luyện thƣờng xuyên qua thực tế và thực nghiệm.
Ngay từ khi còn đang học, sinh viên các trƣờng y đã phải học tập trong môi trƣờng bệnh viện, phải đi trực đêm. Trong môi trƣờng học tập đó các CBYT tƣơng lai đã phải tiếp xúc với các nguy cơ bệnh tật mà họ cũng có thể mắc phải. Đó cũng là một trong nguyên nhân mà Đảng và Nhà nƣớc đã quyết định ngành y, dƣợc là một nghề độc hại. Môi trường làm việc áp lực cao, độc hại, lao động căng thẳng Theo bộ luật Lao động của Việt Nam, ngƣời lao động chỉ phải làm 8 giờ hành chính, ngoài thời gian đó ngƣời lao động có thể làm thêm và nhận đƣợc đồng lƣơng cao gấp rƣỡi hoặc gấp đôi trong giờ hành chính nhƣng cũng không đƣợc làm quá 12 giờ một ngày.
Còn CBYT thì sao? Ngoài giờ làm việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 hành chính, những ngƣời đến ca trực phải trực đêm (16 giờ), trực lễ, ngay cả dịp tết Nguyên đán khi tất cả ngƣời lao động đƣợc nghỉ về sum họp với gia đình thì CBYT vẫn phải làm mệt mài. Họ phải đảm bảo 24/24 giờ trong ngày đều có ngƣời trực để chăm sóc, cấp cứu kịp thời cho bệnh nhân. Ngay cả khi gia đình họ có ngƣời bị ốm CBYT cũng vẫn phải đi chăm sóc ngƣời khác chứ không phải là ngƣời thân của mình. CBYT thƣờng xuyên làm việc trong môi trƣờng độc hại nhƣ bệnh phẩm, tia X, các tác nhân lây nhiễm bệnh dịch… Khi có vấn đề sức khỏe xảy ra họ lại đƣơng đầu với bệnh dịch mặc dù biết mình có nhiều nguy cơ bị mắc bệnh.
Cƣờng độ lao động, tính khẩn trƣơng và ý thức trách nhiệm trƣớc mạng sống của ngƣời bệnh, dƣ luận xã hội, các đòi hỏi của con ngƣời và đặc biệt là thu nhập thấp đã ảnh hƣởng tới tâm lý và sức khỏe của ngƣời CBYT. Bên cạnh đó, đối tƣợng phục vụ của CBYT là những ngƣời bệnh đang bị bệnh tật chi phối nên thƣờng có những thái độ tiêu cực, không thoải mái, vì điều đó mà đôi khi CBYT phải chịu áp lực rất lớn từ phía ngƣời bệnh. Ngƣời CBYT phải chịu trách nhiệm rất lớn trƣớc xã hội nhƣng mức lƣơng họ nhận đƣợc còn thấp so với các ngành nghề khác. Chính vì vậy, để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe của nhân dân, đòi hỏi phải có một chế độ đãi ngộ đặc biệt hơn các ngành khác, phù hợp với công sức mà họ bỏ ra.
Nội dung đánh giá chất lƣợng cán bộ y tế tuyến cơ sở Nâng cao chất lƣợng CBYT là làm cho những ngƣời làm việc trong lĩnh vực y tế có trình độ và đạo đức cao hơn nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và phòng bệnh cho nhân dân. Việc nâng cao chất lƣợng CBYT trƣớc hết phải nâng cao chất lƣợng của bản thân ngƣời CBYT, biểu hiện ở năng lực cần có của CBYT về kiến thức, kỹ năng, nhận thức, thể chất của ngƣời CBYT và động lực thúc đẩy ngƣời CBYT làm việc. Sau cùng, cần phải có đủ số lƣợng cán bộ và cơ cấu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 hợp lý để đảm bảo nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế bởi chất lƣợng CBYT sẽ quyết định chất lƣợng dịch vụ y tế và chất lƣợng dịch vụ y tế phản ánh năng lực của CBYT. Nội dung đánh giá chất lƣợng CBYT tuyến cơ sở gồm: 1.
Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ Kiến thức là những hiểu biết chung và những hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể của ngƣời CBYT. Kiến thức có đƣợc thông qua các quá trình nhận thức phức tạp của con ngƣời nhờ: quá trình tri giác, học tập, tiếp thu, giao tiếp, làm việc. Ngoài kiến thức chuyên môn, học vấn nghiệp vụ, ngƣời CBYT cần có các kiến thức về văn hóa, xã hội, kỹ năng giao tiếp, ứng xử. Kiến thức bao gồm: kiến thức học vấn và kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.
- Kiến thức học vấn: Là sự hiểu biết của con ngƣời đối với kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Kiến thức học vấn là cơ sở quan trọng để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng làm việc của ngƣời CBYT. Trong chừng mực nào đó, kiến thức học vấn còn là cơ sở để thay đổi hành vi, thái độ của ngƣời lao động. - Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ: Là trình độ chuyên môn đƣợc đào tạo để ngƣời lao động có thể thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do tổ chức phân công.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là một trong những yếu tố hình thành nên năng lực làm việc của mỗi cá nhân, nó là kết quả của quá trình đào tạo, phát triển và kinh nghiệm đƣợc tích lũy theo thời gian. Ngoài ra, ngƣời ta có thể phân chia kiến thức thành kiến thức tổng hợp, kiến thức chuyên ngành. - Kiến thức tổng hợp: là sự hiểu biết chung của CBYT về nhiều loại, nhiều kiến thức khác nhau của nhiều chuyên ngành khác nhau, thể hiện khả năng am hiểu nhiều lĩnh vực chuyên môn và xã hội khác nhau của con ngƣời. Kiến thức tổng hợp giúp CBYT sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và khéo léo hơn trong quá trình giao tiếp với ngƣời bệnh.