CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 1.KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ Y TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 1. Một số khái niệm a. Dịch vụ và phân loại dịch vụ - Dịch vụ Trong cuộc sống ngày nay, chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong luận văn này, em đã tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản.
+ Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. + Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận [1]. + Theo Philip Kotler: Dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất [18]. + Định nghĩa về dịch vụ của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân : Dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra những “sản phẩm” dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở Luan van 9 hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. - Phân loại dịch vụ Dịch vụ được phân ra nhiều loại khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, quản lý. Ở nhiều nước, người ta chia các ngành dịch vụ ra thành 3 nhóm: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ tiêu dùng và dịch vụ công [21].
+ Các dịch vụ công bao gồm các dịch vụ hành chính công, hoạt động đoàn thể. + Các dịch vụ kinh doanh bao gồm vận tải và thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề nghiệp. + Các dịch vụ tiêu dùng bao gồm các hoạt động bán buôn, bán lẻ, du lịch, các dịch vụ cá nhân (như y tế, giáo dục, thể thao. Dịch vụ y tế (DVYT) - Theo nghĩa rộng: DVYT là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe từ hoạt động vệ sinh môi trường sống và làm việc, dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật đến việc khám và điều trị bệnh do các cơ sở y tế Nhà nước (Trạm y tế xã/phường, Trung tâm y tế quận/huyện, các cơ sở y tế tuyến tỉnh, thành phố và trung ương) cung cấp [25, tr.
Như vậy DVYT bao gồm các hình thức phòng ngừa, khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho con người. - Theo nghĩa hẹp: DVYT là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về khám và điều trị bệnh do các cơ sở y tế Nhà nước (Trạm y tế xã/phường, Trung tâm y tế quận/huyện, các cơ sở y tế tuyến tỉnh, thành phố và trung ương) cung cấp [25, tr. Luan van 10 Trong luận văn này, khái niệm về DVYT được hiểu theo nghĩa hẹp. Phát triển dịch vụ y tế Nếu tăng trưởng DVYT về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: viện phí, công suất sử dụng giường bệnh.thì phát triển DVYT ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của ngành y tế, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc điểm của dịch vụ y tế Cũng như các loại hình dịch vụ khác, DVYT có những đặc điểm sau: - Tính vô hình (tính phi vật chất): Các dịch vụ đều vô hình, không giống các sản phẩm vật chất, chúng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được, không nghe thấy được hoặc không ngửi thấy được trước khi mua chúng. Đây là đặc điểm cơ bản đầu tiên của dịch vụ, thường được sử dụng để phân biệt dịch vụ với các hàng hóa thuần vật chất [18]. - Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời. Vì khách hàng cũng có mặt khi dịch vụ đó thực hiện, nên sự tác động qua lại giữa bên cung ứng dịch vụ và khách hàng là tính chất đặc biệt của dịch vụ.
Cả bên cung ứng và khách hàng đều ảnh hưởng đến dịch vụ [18]. - Tính không thuần nhất của dịch vụ: Cùng một loại dịch vụ nhưng sẽ không hoàn toàn giống nhau khi: cung cấp cho các khách hàng khác nhau, cung cấp bởi những nhân viên khác nhau, cung cấp tại những thời điểm và địa điểm khác nhau [18]. Luan van 11 - Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể lưu kho và đem bán giống như các hàng hóa khác.Trong điều kiện nhu cầu không thay đổi thì tính không lưu giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề, bởi vì có thể dễ dàng thu xếp trước một cách thỏa đáng [18]. Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, DVYT có một số đặc điểm riêng, đó là: - Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở các mức độ khác nhau.
Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được [20]. - DVYT là loại hàng hóa mà người bệnh thường không tự lựa chọn được mà chủ yếu do bên tổ chức cung cấp DVYT quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong DVYT “Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sỹ quyết định.
Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sỹ điều trị chứ không được chủ động lựa chọn phương pháp điều trị [20]. - DVYT là một loại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải khám chữa bệnh, đây là đặc điểm đặc biệt không giống các loại hàng hóa khác [20]. - DVYT nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt là trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ [20]. - Bên cung cấp DVYT có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá nhân.
Để được là bên cung cấp DVYT thì phải có giấy phép hành nghề theo quy định của Nhà nước [20]. Phân loại dịch vụ y tế Có 3 loại dịch vụ y tế: DVYT công cộng, DVYT cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên và DVYT cá nhân [25]. - DVYT công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế. - DVYT cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên: sẽ được dành cho một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công với cách mạng.
- DVYT cá nhân là các DVYT chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ. Ý nghĩa của việc phát triển dịch vụ y tế Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người và của xã hội, do đó chính sách y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có vị trí hàng đầu trong hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội của đất nước. Sức khỏe tốt được thể hiện ở thể lực cường tráng và không bệnh tật, cùng với trí lực và tâm lực (phẩm chất tâm lý xã hội) là yếu tố quyết định đến sự phát triển của mỗi cá nhân, tạo ra một xã hội ngày càng văn minh. Không có sức khỏe tốt sẽ không có điều kiện để phát triển trí lực và tâm lực.
Trong dân gian chúng ta thường hay nói “có sức khỏe là có tất cả”. Tuy câu ngạn ngữ này không đúng trong mọi trường hợp nhưng rõ ràng không có sức khỏe thì không có gì cả [2]. DVYT với nhiệm vụ trọng tâm là chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho con người, vì vậy nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cúa đất nước. Luan van 13 Con người là tài nguyên quý báu nhất, quyết định cho sự phát triển của đất nước.
Vì vậy, phát triển DVYT góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân, trực tiếp đảm bảo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước [2]. Với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em tốt, DVYT tạo ra nguồn lực cơ bản cho phát triển xã hội trong tương lai. Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai. DVYT góp phần quyết định cải tạo giống nòi thông qua việc giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ trẻ em khuyết tật, bại liệt, thiếu cân,.
Đối với nguồn nhân lực quốc gia, thể lực của người lao động là một trong ba phẩm chất cơ bản của nguồn nhân lực (thể lực, trí lực và tâm lực). Sức khỏe tốt là nhân tố cơ bản nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch vụ, là một đòi hỏi bắt buộc đối với nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. DVYT chính là nhằm đáp ứng đòi hỏi này. Phát triển DVYT góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân và gia đình, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện phát triển bền vững đất nước [2].