Phần mở đầu: 08 trang. Phần nội dung: 152 trang, gồm có 3 chƣơng đƣợc cấu trúc nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và doanh nghiệp sản xuất. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Một số khái niệm cơ bản: quản lý giáo dục, đào tạo nghề, trƣờng dạy nghề, doanh nghiệp sản xuất, chất lƣợng đào tạo nghề, kết hợp đào tạo nghề. Các cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX. Kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX ở Việt Nam hiện nay. Cơ sở thực tiễn của kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và doanh nghiệp sản xuất (38 trang).
Một số nét về thực trạng đào tạo nghề ở Việt Nam. Thực trạng hoạt động đào tạo nghề ở các doanh nghiệp sản xuất. Thực trạng về kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX ở Việt Nam. Kinh nghiệm kết hợp đào tạo nghề điển hình trên thế giới.
Đề xuất phƣơng thức thức tổng quát và xây dựng các giải pháp quản lý cụ thể thực hiện kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề. Đề xuất phƣơng thức kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề. Xây dựng các giải pháp quản lý cụ thể thực hiện phƣơng thức kết hợp đào tạo nghề đã đề xuất. Thăm dò ý kiến về các các giải pháp thực hiện phƣơng thức kết hợp đào tạo.
Khảo nghiệm các giải pháp thực hiện phƣơng thức kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phần kết luận và kiến nghị (05 trang). Danh mục các công trình khoa học đã công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục (86 trang). 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾT HỢP ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƢỜNG VÀ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn là triết lý giáo dục, nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Bàn về Giáo dục XHCN, C.
“Những điều khoản của định luật công xƣởng, nói chung trong toàn bộ, đối với việc giáo dục, tuy có vẻ ít ỏi thật, nhƣng cũng đã tuyên bố đƣợc rằng trẻ em bắt buộc phải có trình độ sơ học mới làm đƣợc. Thành công của những điều khoản đó đã chứng tỏ một cách thực tiễn: lần đầu tiên cho ta thấy rằng có thể kết hợp giáo dục và thể dục với lao động chân tay và ngƣợc lại". “Chỉ cần xem những cuốn sách của Robert Owen cũng đủ thấy rằng chế độ công xƣởng là nơi đầu tiên làm nảy nở mầm mống của nền giáo dục tƣơng lai, nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với giáo dục và thể dục, đối với hết thảy các trẻ em đến một tuổi nhất định nào đó, và làm nhƣ vậy không những chỉ là tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phƣơng pháp duy nhất để đào tạo ra những con ngƣời phát triển toàn diện". Mác, Tư bản, Nxb Sự thật, 1960, tr.
Lênin cho rằng: “Ngƣời ta không thể hình dung lý tƣởng của xã hội tƣơng lai nếu không có sự kết hợp giáo dục với lao động sản xuất của thế hệ trẻ: Giáo dục không có lao động sản xuất hay lao động sản xuất mà không có giáo dục đi đôi thì không thể đạt tới trình độ cao mà trình độ kỹ thuật hiện đại và tình hình tri thức đòi hỏi". (Lênin bàn về Giáo dục Quốc dân, Matxcơva 1957, tr. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nƣớc ta, nguyên lý này đƣợc khẳng định trong các Nghị quyết Trung ƣơng Đảng, đƣợc Bác Hồ và các nhà giáo dục quán triệt trong suốt chặng đƣờng lịch sử giáo dục. Bác Hồ đã dạy: “Thực tiễn không có lý luận hƣớng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông".
Tƣ tƣởng này của Bác đã đƣợc thể hiện trong các giai đoạn phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Sau đây là một số nét tiêu biểu: Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc tháng 7 năm 1948, đồng chí Trƣờng Chinh đã khẳng định: “Biết và làm đi đôi, lý luận và hành động kết hợp". (Trƣờng Chinh, Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam, 1949, tr. Cuộc Cải cách Giáo dục năm 1950 đã quán triệt nguyên lý kết hợp giáo dục với lao động sản xuất.
Nguyên lý ấy đƣợc thể hiện trong nội dung và phƣơng pháp giảng dạy; đặc biệt là các môn khoa học có liên hệ với sản xuất. Nguyên lý này đƣợc tiếp tục phát triển sau cuộc Cải cách Giáo dục lần II (năm 1956). Hội nghị Khoa học Giáo dục khẳng định: “Việc giảng dạy phải kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, lý luận phải kết hợp chặt chẽ với thực tiễn". Tháng 12 năm 1958, Nghị quyết Ban Chấp hành TƢ Đảng lần thứ XIV đã đánh dấu một bƣớc lớn trong quá trình khẳng định nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất: “Các trƣờng đào tạo cán bộ phải gắn chặt với các cơ sở sản xuất, học liên hệ chặt chẽ với hành, lao động trí óc với lao động chân tay”.
“Phải kết hợp chặt chẽ học tập với lao động sản xuất phục vụ đắc lực cho phong trào hợp tác sản xuất ở nông thôn và phong trào cải tiến kỹ thuật ở các xí nghiệp”. Ngày 27 tháng 6 năm 1959, Bộ Giáo dục ra chỉ thị: "Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là một nguyên lý cơ bản của nền giáo dục XHCN". 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960), vấn đề "Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất" đã hiển nhiên trở thành nguyên lý cơ bản của giáo dục và đƣợc khẳng định lại ở các Đại hội Đảng sau này.[24, 25] Năm 1998, Luật Giáo dục của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi:. “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng qui mô trên cơ sở đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng”.
Chƣơng I, Luật Giáo dục năm 2005 ghi: “Hoạt động giáo dục phải đƣợc thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trƣờng gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội”. Tiếp tục phát triển Nghị quyết TƢ 2 khóa VIII, kết luận Nghị quyết TƢ 6 khóa IX về Giáo dục nhấn mạnh: "Giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội". Nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất lại càng đƣợc quán triệt hơn trong lĩnh vực đào tạo nghề. Bàn về đào tạo nghề, C.
Mác chỉ ra nhiệm vụ cơ bản, cần thiết của đào tạo nghề gồm: “Một là: Giáo dục trí tuệ; Hai là: Giáo dục thể chất; Ba là: Dạy kỹ thuật nhằm giúp cho học sinh nắm vững đƣợc những nguyên lý cơ bản của tất cả các qui trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất”. Ănghen, Tuyển tập, tập 16, tr.198) [61] 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bàn về đào tạo nghề, nhà giáo dục ngƣời Nga Tra-Khô-an V. khẳng định: "Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất trong xí nghiệp" và nhấn mạnh "Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được". [61] Nguyên lý này đƣợc thể chế hóa trong các văn bản pháp qui về đào tạo nghề của Việt Nam.
Chƣơng III, Qui chế trƣờng nghề nhà nƣớc (ban hành kèm theo quyết định số 382/QĐ ngày 27/2/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) ghi: “Quá trình giáo dục và đào tạo phải quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn liền với gia đình và xã hội”. UNESCO đã tổ chức các cuộc hội thảo, nghiên cứu về vấn đề gắn đào tạo với sử dụng trong đào tạo nghề. Trong đó, vấn đề hợp tác đào tạo nghề tại trƣờng và doanh nghiệp đƣợc quan tâm hàng đầu. UNESCO đƣa ra quan điểm định hƣớng cho cho tất cả các nƣớc về kết hợp đào tạo nghề tại nhà trƣờng và DNSX bao gồm hai hƣớng cơ bản sau: [79, 90] - Tăng cƣờng năng lực thực hiện hệ thống song hành sửa đổi (Modified Dual System) để tiến hành học tập tại nơi làm việc cùng với học tập tại trƣờng.
- Nghiên cứu các phƣơng thức kết hợp học tập tại trƣờng với học tập tại nơi làm việc, ví dụ: kết hợp đào tạo. Kết hợp đào tạo nghề là phƣơng thức đào tạo nghề còn chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ, chƣa nhất quán ở nƣớc ta và có những cách hiểu khác nhau từ các góc độ hình thức, nội dung, phƣơng pháp, lý thuyết, thực tiễn thực hiện. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong phạm vi luận án này, khái niệm kết hợp đào tạo tại trường và DNSX đƣợc hiểu là phương thức đào tạo nghề trên cơ sở hợp tác, tích hợp chức năng, tiến hành tại trường và DNSX. Trong đó, trường giữ vai trò chủ đạo, DNSX tham gia định hướng mục tiêu, kiểm soát chất lượng và hỗ trợ quá trình đào tạo.
Vấn đề kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX đƣợc nghiên cứu ở những mức độ, với các hình thức tổ chức khác nhau, tuỳ theo những điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lãnh thổ và khu vực. Trên thế giới, ở nhiều nƣớc đã nghiên cứu, áp dụng kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX. Điển hình là: Ở CHLB Đức, kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX đƣợc coi là loại hình đào tạo cơ bản và đƣợc áp dụng rộng rãi trong toàn quốc. Điển hình là mô hình Dual System.
Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam gọi là “đào tạo kép”, "đào tạo song hành" hay còn gọi là “đào tạo song tuyến” (Khái niệm Dual system được nhà giáo dục người Đức Heinrich Abel sử dụng năm 1964). [79, 87] Đây là loại hình đào tạo cơ bản, có nhiều ƣu điểm nổi trội trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả đào tạo nghề và đƣợc nghiên cứu áp dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới.