Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu quốc tế Trên thế giới, việc gan kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp trong đào tạo nghe đã trở nên phổ biến tại nhieu quốc gia phát trien như Ðức, Na Uy, Hàn Quốc, Nhật Bản,. Có nhieu nghiên cứu của các tác giả ve lý luận và thực tien ve liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp đào tạo lao động như: (i) Nen tảng lý thuyết mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo lao động qua đào tạo; (ii) Những lợi ích trong liên kết doanh nghiệp-nhà trường; (iii) Mô hình liên kết doanh nghiệp-nhà trường trong đào tạo nghe; (iv) Kinh nghiệm quốc tế của các nước trong liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và (v) Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả liên kết doanh nghiệp-nhà trường. Nền tảng lý thuyết mối liên kết giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp trong đào tạo lao động Motohisa Kaneko (2014), giải thích mối quan hệ giữa giáo dục bậc cao (higher education) và công việc thông qua phân tích mối quan hệ giữa bộ ba: (i) giáo dục đại hoc, (ii) kỹ năng, hieu biết và khả năng mà nó mang lại cho người lao động và (iii) việc sử dụng các yếu tố bên trong công việc.
Mối quan hệ mà ông đ t tên là “liên kết E-A-W (Education-Ability-Work)”. Ðe tìm hieu bản chất của liên kết trên Kaneko xem xét chieu dài lịch sử của giáo dục đại hoc. “Liên kết E-A-W” là mối quan hệ tuyến tính hạn chế khi các trường đại hoc lan đau xuất hiện ở Châu Âu thời trung cổ. Các trường đại hoc nguyên thủy ch đào tạo ba ngành: luật hoc cho các luật sư và các viên chức chính phủ, dược hoc cho các dược sỹ và than hoc cho giới tăng lữ (Rashdall 1936).
Ðến thế kỷ 19, các liên kết E-A-W phát trien hơn nhờ sự b ng nổ của cuộc cách mạng khoa hoc công nghệ. Ở Mỹ, sự phát trien của các ngành công nghiệp kéo theo nhu cau ve lực lượng lao động có tay nghe và trình độ cao tăng mạnh. Chính quyen các bang ở Mỹ nhận thấy nhu cau này đã thành lập mới và hỗ trợ rất nhieu LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP cho các cơ sở giáo dục bậc cao (các trường cao đẳng, đại hoc). Quá trình công nghiệp hóa giúp thu nhập của các hộ gia đình tăng nhanh, kéo theo mong muốn gửi con cái tới các cơ sở giáo dục bậc cao với mong muốn gia nhập tang lớp trung lưu mới.
Các yếu tố trên cộng hưởng với nhau đã tạo ra một thế hệ mới trong liên kết E- A-W. Phạm vi của các chuyên ngành, kiến thức được giảng dạy ở các trường trở nên nhieu hơn, rộng hơn và chuyên sâu hơn ban đau rất nhieu. Xu hướng này tiếp tục phát trien trong thế kỷ 20, đ c biệt là sau Ðại chiến Thế giới II, đã tạo ra thế hệ thứ ba của mối liên kết E-A-W. Sự thay đổi này đã tạo nên sự nhảy vot ở Mỹ, nơi tăng trưởng kinh tế nhanh chóng dien ra từ những năm cuối thập niên 1950.
Thế hệ ba của mối liên kết E-A-W được xem là thời kỳ “đại trà hóa” của giáo dục đại hoc, kéo dài tới tận những năm 1970 (Trow, 2010). Các chính sách của chính phủ với mục đích mở rộng cơ hội hoc đại hoc đe nâng cao chất lượng xã hội và chất lượng tăng trưởng kinh tế được xem là nguyên nhân chính dan tới thành quả trên bên cạnh sự lên trong nhu cau hoc lên cao của người dân nhờ sự tăng lên của mức thu nhập. Ở Mỹ, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng kéo theo sự xuất hiện của nhieu tập đoàn quy mô lớn, đieu này kéo theo nhu cau ve các nhân viên hành chính và các viên chức quản lý với các yêu cau ve bằng cấp tăng mạnh. Ðồng thời, sự xuất hiện của các chính sách phúc lợi nhà nước đã làm gia tăng nhu cau ve công nhân trong các dịch vụ công cộng, c ng có xu hướng đòi h i bằng đại hoc.
Lúc này, việc mở rộng giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế có quan hệ khá gan g i, gợi nhớ đến ý tưởng “kế hoạch hóa nguồn nhân lực” – ý tưởng ve việc dự đoán nhu cau nguồn nhân lực thông qua tăng trưởng kinh tế bằng việc ngoại suy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, cấu trúc ngành, việc làm và đào tạo với giả định mối quan hệ giữa các nhân tố E-A-W là tuyến tính. Tuy nhiên, trên thực tế đến thời kỳ này, mối quan hệ giữ các nhân tố E-A-W đã trở nên phức tạp hơn và mâu thuan hơn. Do sự thay đổi của mỗi một nhân tố chịu ảnh hưởng của các lực lượng riêng ảnh hưởng tới nó. Ðây là thời kỳ mà Jencks và Riesman goi là “cuộc cách mạng học thuật”.
Trong thời kỳ này, áp lực lớn hơn được đ t ra đối với các tổ chức giáo dục, buộc các cơ sở này phải phát trien thành LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP tích hoc thuật của đội ngũ giảng viên. Ðieu này không xuất phát từ nhu cau tri thức đe đào tạo người lao động mà xuất phát từ nhu cau bên trong của các cơ sở đào tạo. Drucker, 1992 đã chỉ ra rằng sự tăng lên của giáo dục đại hoc trong công việc không nhất thiết là do các yêu cau ve tri thức mà chỉ đơn giản là vì thế hệ trẻ thời đó có nhu cau được hoc đại hoc. Ðieu này hàm ý rằng, các mối quan hệ trong liên kết E-A-W trở nên l ng hơn.
Ðieu tương tự cũng dien ra ở nhieu nước khác. Cũng theo Kaneko, Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua liên kết E-A-W gồm ba kieu liên kết: (i) liên kết tuyến tính (Linear links), trong mối liên kết này người lao động được chuẩn bị các kỹ năng nghe nghiệp, các tri thức và hoc thuật rất tốt và bài bản. Ví dụ cho kieu liên kết này là giáo dục dành cho các bác sỹ ho c luật sư. Thông thường các liên kết này được quy định và bảo vệ bởi chính quyen thông qua các chứng chỉ hành nghe; (ii) Các liên kết bị giới hạn (Bounded links) đây là trường hợp các kỹ năng và tri thức được định nghĩa không mấy rõ ràng, tất nhiên là van có những yêu cau cơ bản ve tri thức và kỹ năng nào đó.
Ðào tạo kỹ sư và những công việc mà hoc có the làm sau khi tốt nghiệp là một ví dụ cơ bản cho liên kết kieu này. Hoc sinh sau khi tốt nghiệp không bị giới hạn ngành nghe làm việc tuy nhiên nhà tuyen dụng quyết định tuyen dụng ho dựa trên đieu kiện cơ bản là những kỹ năng, tri thức mà ho được đào tạo; (iii) Các liên kết không bị giới hạn. Kieu liên kết này không yêu cau người lao động phải có một kỹ năng đ c biệt nào nhưng yêu cau ho có có những năng lực cơ bản đe hoc các tri thức và các kỹ năng cụ the đe đáp ứng nhu cau công việc được giao. Các công việc hành chính thường rơi vào nhóm liên kết này.
Tao Yong-qin (2013) đã chỉ ra các đ c trưng trong cơ chế hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Theo Tao Yong-qin, mục tiêu của quan hệ hợp tác này là tìm ra điem chung trong nhu cau của các bên trong mục tiêu của chiến lược hợp tác. Và sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp mang nhieu đ c điem của một hệ thống kinh tế hơn là các hệ thống khác. Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất của nó là tác động tương đối lớn tới nhân tố con người trong hệ thống kinh tế như ý chí của người, chính sách, luật lệ và hành vi.
LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG CÓ TAY NGHỀ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP Cũng giống Kaneko, Tao Yong-qin cho rằng: “Hợp tác nhà trường-doanh nghiệp là một tổ hợp quan hệ phi tuyến tính bao hàm các mối quan hệ rất phức tạp phụ thuộc lan nhau và cũng hạn chế lan nhau”. Trong khi đó, Ashok Bardhan, Daniel L. Hicks và Dwight Jaffee (2011) đưa ra quan điem rằng: “Giáo dục bậc cao (bao gồm cả đào tạo nghe) được xem là có vai trò sống còn trong phát trien một lực lượng lao động năng động và hiệu quả đáp ứng nhu cau của quá trình toàn cau hóa nhanh chóng như hiện nay” Tazeen Fasih (2008), đã chỉ ra dưới góc độ quản lý nhà nước và xây dựng chính sách giáo dục, đào tạo lao động phải xuất phát từ thị trường lao động và đảm bảo sự cân bằng trong mối quan hệ cung – cau lao động có trình độ. Việc ước lượng quy mô và nhu cau đào tạo phải được đo lường dựa trên nhu cau của nhà tuyen dụng.
Quan trong hơn Tazeen Fasih cho rằng, các quốc gia có trình độ phát trien kinh tế khác nhau sẽ có những yêu cau khác nhau ve phát trien giáo dục và đào tạo nghe liên quan. Kaneko (2011) cũng có kết luận tương tự khi thấy rằng trong giai đoạn 1950- 1970 các quốc gia Châu Âu có trải qua hình thái liên kết A-E-W giống Mỹ nhưng thời điem lại chậm hơn và mang nhieu đ c điem khác nhau dưới tác động của trình độ phát trien kinh tế của quốc gia đó. Xiao-dong Zhu và Ning Jiang (2017), khi nghiên cứu ve liên kết doanh nghiệp- nhà trường ở các trường cao đẳng kỹ thuật hướng nghiệp đã chỉ ra vai trò của đào tạo nghe và đào tạo nâng cao trong việc phát hiện, nuôi dưỡng và đào tạo các tài năng ứng dụng cho Trung Quốc. Theo đó, liên kết doanh nghiệp-nhà trường là cánh cửa đe sinh viên tiếp cận với môi trường công việc thực tế nhanh nhất.
Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đe chưa được giải quyết trong quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp. Theo các tác giả, can có những nỗ lực chung từ cả hai phía đe tìm ra các giải pháp cho vấn đe. Tác phẩm “Germany‟s Vocational Education at a glance” của Bộ Giáo dục và Ðào tạo liên bang Ðức năm 2003 trình bày khái quát ve hệ thống đào tạo nghe kép tại Ðức.