phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được cơ cấu gồm 3 chương, 9 tiết. 6 Chƣơng 1 ĐÀO TẠO LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái niệm lý luận chính trị Trong bất cứ thời kỳ nào, giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cán bộ đảng viên luôn là một trong những nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, quyết định việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cho nên nhà triết học C.
Mác đã khẳng định rằng muốn thực hiện tốt những tư tưởng cần có con người sử dụng một thực tiễn. Lịch sử xã hội loài người, lịch sử của quá trình cách mạng đã chứng minh rằng, mọi chính đảng, giai cấp nào muốn giữ vững được quyền thống trị xã hội thì điều quan trọng là phải chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của giai cấp mình không ngừng nâng cao về trình độ, rèn luyện về kỹ năng và bồi dưỡng lý luận chính trị trong thời kỳ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng:“Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Muốn làm được điều đó, Đảng phải có lý luận cách mạng của mình”.
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lại quan điểm rất quan trọng của V. Lênin: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động…Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” [29, tr. Vì vậy, chỉ có chính đảng nào có được lý luận tiên phong dẫn đường thì đảng đó mới hoàn thành cách mạng tiền phong. Cho nên, khi nói đến Đảng chính trị là nói đến hệ thống lý luận – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ấy.
Như vậy, để làm rõ lý luận chính trị thì tác giả cũng đã xuất phát từ nhiều phương diện, góc độ, quan niệm khác nhau và làm rõ một số khái niệm có liên quan như :“lý luận” và “chính trị”. Theo Từ điển tiếng Việt: “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn. Lý luận là những 7 kiến thức được khái quát hóa và hệ thống hóa trong một lĩnh vực nào đó” [46, tr. Từ điển Triết học định nghĩa: “Lý luận là những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực … Lý luận là sự khái quát hoạt động nhận thức và những kết quả của thực tiễn, lý luận góp phần cải tạo tự nhiên và đời sống xã hội” [42, tr.
Trong giáo dục lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy “lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [25, tr. Có thể thấy rằng, dưới góc nhìn của Người không giống như nhiều học giả khác, khi họ chỉ nhìn lý luận ở góc độ lý luận chính trị. Với ý nghĩa trên, lý luận rất quan trọng vì nó đóng vai trò định hướng cho hoạt động nhận thức và là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn của con người nói chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng. Bởi vì, lý luận được tổng kết từ thực tiễn và quay trở lại chỉ đạo thực tiễn nên chủ thể nhận thức và hoạt động cần phải nắm bắt nguyên tắc này, nắm vững lý luận như người vĩ đại đứng trên vai của những người khổng lồ, để tổng kết và sáng tạo ra lý luận, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của chính đảng, của giai cấp và của dân tộc mình.
Tuy có rất nhiều cách tiếp cận, quan niệm ở những phương diện khác nhau, nhưng xét cho cùng thì cũng có nhiều quan điểm đồng nhất với nhau. Vậy, lý luận là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trình hoạt động sống của con người; là sự phản ánh bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và có vai trò chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn thì thực tiễn đống vai trò là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận. Hay, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý, bởi lẽ chỉ có thông qua thực tiễn con người mới “vật chất hóa” được tri thức, “hiện thực hóa” được tư tưởng.
Thông qua quá trình đó, chủ thể nhận thức có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm của lý luận. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lý luận chân chính là: “Đem 8 thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh trong thực tế” [30, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít, lịch sử xã hội loài người tất yếu trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội, trong đó có những giai đoạn, thời kỳ hay ở mỗi hình thái thì xã hội loài người không tồn tại giai cấp, nhà nước và đảng phái.
Cụ thể, trong xã hội công xã nguyên thủy, sản xuất vật chất chưa phát triển, chưa xuất hiện tư hữu, chưa xuất hiện giai cấp, cũng vì thế trong xã hội chưa xảy ra mâu thuẫn và sự đối lập về lợi ích trong xã hội. Từ thực tiễn đó, chúng ta thấy rằng không có giai cấp, không có quan hệ giai cấp, không có nhà nước, tổ chức để giải quyết quan hệ đó thì cũng không có chính trị và hoạt động chính trị. Vậy thì trong xã hội công xã nguyên thủy, ai và tổ chức nào sẽ điều chỉnh sinh hoạt, duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội công xã, đó chính là các tộc trưởng, tù trưởng, những người cao tuổi có đạo đức và uy tín, hay tự quản theo tập quán. Cho nên Ph.
Ăngghen viết:“Với tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức đẹp đẽ biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án - thế mà mọi việc đều trôi chảy”. Từ đó, có thể khẳng định rằng trong xã hội nguyên thủy chưa có chính trị, chưa có tổ chức và hoạt động chính trị, tuy nhiên đó là mầm mống tiền đề cho sự nảy sinh vận động, phát triển của chính trị và hoạt động chính trị sau này. Vậy, chính trị là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm của xã hội, xuất hiện trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử - xã hội loài người, gắn liền với sự phân chia xã hội thành những lực lượng đối kháng và sự chuyển đổi của một nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất khi lực lượng sản xuất phát triển, mà kết quả tất yếu của sự chuyển biến xã hội này là sự ra đời của Nhà nước và các tổ chức chính trị. Chính trị là hình thái ý thức xã hội, là một trong những yếu tố của kiến trúc thượng tầng có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và đối với các yếu tố khác trong kiến trúc thượng tầng.
Từ khi ra đời, chính trị được hiểu ở rất nhiều 9 phương diện và nhìn nhận khác nhau từ thời cổ đại, trung đại và cận đại, các học giả phương Đông, phương Tây cố gắng tìm kiếm một hình thức nhà nước tối ưu để cai trị đất nước. Theo tiếng Hy Lạp cổ, thì chính trị là “politica” - tức là những công việc liên quan đến nhà nước, là nghệ thuật cai trị đất nước, quản lý xã hội. Cho nên: “Chính trị theo nguyên nghĩa của nó là sự tham gia vào các công việc của nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. Lĩnh vực chính trị bao hàm các vấn đề chế độ nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái, v.v… Những lợi ích căn bản của các giai cấp và những quan hệ qua lại của các giai cấp biểu hiện ra trong chính tri, cũng là sự biểu hiện những quan hệ giữa các dân tộc và giữa các quốc gia” [42, tr.
Hay “Chính trị theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [43, tr. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) C. Ăngghen đã phân tích và làm rõ nội hàm của chính trị, các ông đã chỉ ra thực chất của chính trị, nguồn gốc xuất hiện và mất đi của chính trị, bản chất của chính trị và điều đặc biệt là hai ông đã phát hiện ra yếu tố cơ bản, giữ vị trí quan trọng của chính trị là yếu tố kinh tế, do vậy C. Ăngghen đã cho rằng chính trị thực chất là quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng người đối với vấn đề Nhà nước và xã hội.
Chính trị là sự phản ánh tập trung của đời sống xã hội, giai cấp. Các ông quan niệm: “Mỗi bước phát triển của giai cấp tư sản đều cấp một bước tiến bộ chính trị tương ứng”. Khi bàn đến chính trị là nói đến chính trị của Đảng phái, để đảm bảo cho sự phát triển của kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc thì phải thông qua một hệ thống chính trị như: chủ trương, quan điểm, đường lối, chính sách, pháp pháp luật của Đảng và Nhà nước một cách khoa học, không được sai lầm, mơ hồ về chính trị. Do phạm trù chính trị có tính đặc thù và tầm quan trọng như vậy, nên V.
Lênin đã khẳng định: “Chính trị giống đại số hơn là số học, càng giống toán học cao cấp hơn toán học sơ cấp”, “Chính trị là vận mệnh thực tế của hàng chục triệu con người” [56, tr.