Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo trình độ đại học 1. Khái niệm về chất lượng và đào tạo - Khái niệm về chất lượng: Trong các nghiên cứu chất lượng là một khái niệm được xem xét từ các tiếp cận khác nhau: Với cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng thì chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất).
Điều này chỉ có thể hiểu được, cảm nhận được nếu so sánh với những sự vật có cùng đặc tính với sự vật đang được xem xét [14]. Nếu với cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng thì chất lượng được xem xét trên cơ sở thuộc tính đo được. Điều đó có nghĩa là chất lượng được đo lường khách quan và chính xác. Một sự vật có thuộc tính nào đó “cao hơn” cũng có nghĩa là nó “tốt hơn” và do đó cũng “đắt hơn”.
Còn tiếp cận dựa trên sản xuất thì chất lượng được xem là sự phù hợp với nhu cầu. Các sản phẩm và dịch vụ được “sản xuất” một cách chính xác với những “đặc tính kĩ thuật” đã định; mọi sự lệch lạc đều dẫn đến giảm chất lượng [14]. Nguyễn Hữu Châu (2008) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu); là đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con mắt của người chiêm ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng [14, trang 6] Theo tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109, chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng.
Trong khi đó tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN – ISO 8402) thì đưa ra khái niệm chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Ở cách tiếp cận đa dạng hơn Harvey & Green (1993) cho rằng chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh sau: Sự 14 xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc; Sự hoàn hảo; Sự phù hợp, thích hợp; Sự thể hiện giá trị; Sự biến đổi về chất [45]. - Khái niệm về đào tạo: Trong Đại từ điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý (1999) đã đưa ra thuật ngữ "Đào tạo" là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; Đào tạo thành người có tri thức, chuyên môn nghiệp vụ. Theo Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh (2008).
Để hiểu rõ về đào tạo, trước hết, cần hiểu một số khái niệm liên quan: • Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của nguồn nhân lực. Nó biểu hiện ở sự hiểu biết lý thuyết về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động để hoàn thành những công việc có trình độ phức tạp nhất định thuộc về một nghề hoặc chuyên môn nào đó. • Nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. • Chuyên môn là một hình thức phân công lao động sâu sắc hơn do sự chia nhỏ của nghề.
Nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết và thói quen trong phạm vi hẹp hơn và sâu hơn. • Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực là con đường duy nhất hình thành và phát triển vốn nhân lực. Mỗi quốc gia có quy định chính thức về hệ thống giáo dục quốc dân và chiến lược phát triển nguồn nhân lực thích hợp xuất phát từ tình hình và điều kiện cụ thể của mỗi giai đoạn phát triển. • Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
• Giáo dục và đào tạo cung cấp sức lao động có chất lượng, năng suất cao là một yếu tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ hiện nay, khi môi trường luôn thay đổi tác động đến tổ chức, đến ngành, giáo dục và đào tạo đáp ứng những thay đổi đó và con người có trình độ sẽ nhận biết được sự thay đổi, làm chủ sự thay đổi [29, trang 111]. 15 • Cán bộ chuyên môn là những người được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, có trình độ học vấn cao, có khả năng lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo một chuyên môn nghiệp vụ nào đó. Căn cứ vào trình độ đào tạo cán bộ chuyên môn có thể chia thành các loại sau: cán bộ trung cấp; cán bộ chuyên môn có trình độ cao đẳng; cán bộ chuyên môn có trình độ đại học; cán bộ chuyên môn có trình độ trên đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) [29, trang 122].
Như vậy, đào tạo trình độ đại học là quá trình chuẩn bị cho sinh viên kiến thức làm việc trong một thế giới nối kết, liên thông toàn cầu hóa. Các trường đại học đóng một vai trò to lớn trong việc truyền bá và phát triển kiến thức. Bên cạnh chức năng truyền thụ kiến thức, một trong những đặc trưng quan trọng nhất của trường đại học là kết hợp được việc giảng dạy và nghiên cứu [14]. Tuy nhiên, trường đại học không phải là trung tâm nghiên cứu, cũng như không phải trường dạy nghề đơn giản.
Tính tự chủ của các cơ sở đào tạo trình độ đại học rất cao. Trường đại học vừa là nơi giảng viên chia sẻ các kết quả nghiên cứu của mình với sinh viên, tổ chức cho sinh viên làm nghiên cứu mới. Trường đại học cũng vừa là nơi kết nối với doanh nghiệp, với thị trường lao động trong quá trình đào tạo, nghiên cứu và cung ứng nguồn nhân lực. Các quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học Hiện nay, chất lượng không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục và đào tạo mà là mối quan tâm hàng đầu của mọi hệ thống.
Chất lượng là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức [1]. Chất lượng là một vấn đề rất trừu tượng, không ai nhìn thấy được và cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan của mình, không thể đo lường bằng những công cụ đo thông thường [13]. Về bản chất, khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học là một khái niệm mang tính tương đối. Với mỗi người quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường dặt câu hỏi “chất lượng của ai”.
Ở mỗi vị trí, người ta nhìn nhận về chất lượng đào tạo trình độ đại học ở những khía cạnh khác nhau. Các sinh viên, nhà tuyển dụng, giảng viên, chính phủ, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng [13]. Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được 16 mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo [14, trang 6]. Cũng có nghiên cứu cho rằng chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể [27, trang 23].
Dưới đây là các trường phái nghiên cứu định nghĩa về chất lượng đào tạo trình độ đại học: - Trường phái thứ nhất cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là sự vượt trội. Tiêu biểu cho trường phái này là Harvey và Green (1993). Quan điểm này cho rằng chất lượng không được định nghĩa thông qua việc đánh giá những gì được cung cấp mà dựa trên cơ sở cho rằng chính bản thân tính nổi trội. Chất lượng là cái sẵn có nằm trong trường đại học, và do vậy không cần có cơ quan nào bên trong hay bên ngoài trường đại học để làm nhiệm vụ đảm bảo chất lượng mà công việc đó được thực hiện bởi chính đội ngũ học thuật trong mọi thứ họ làm.
(2004) thì nhấn mạnh vào đầu vào, đầu ra, chất lượng là sự xuất sắc để chỉ khái niệm của một nhóm sinh viên ưu tú giới hạn trong “tháp ngà” của một số ít trường đại học. - Trường phái thứ hai cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là sự hoàn hảo nhất quán. Nghiên cứu của Harman, G. (1985) chỉ ra sự xuất sắc trở thành hoàn hảo “khiếm khuyết bằng không”.
Đồng tình với quan điểm này còn có Gudmund, H (2000) và Connolly, M (2010). Hoàn hảo đảm bảo rằng không xảy ra sai sót ở từng giai đoạn thay vì chờ kiểm tra đến đoạn cuối cùng mới phát hiện ra sai sót (Oldfield and Baron, 2000). - Trường phái thứ ba cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là sự phù hợp với mục tiêu. Cách tiếp cận này cho rằng chất lượng đào tạo chỉ có ý nghĩa trong mối liên hệ với mục tiêu (Bowles, 1976; Ramsden, 1991; Scott, 2001).
Các nghiên cứu xác định chất lượng mức độ sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Giả thuyết cho rằng một sản phẩm chất lượng khi khi đạt được yêu cầu 17 của khách hàng. Chất lượng đào tạo trình độ đại học theo nghĩa phù hợp mục tiêu được đánh giá bằng đầu ra chứ không phải bằng quá trình. - Trường phái thứ tư cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là giá trị chuyển đổi.
Quan niệm này dựa trên hiện tượng thực tế: Băng tan ra thành nước và cuối cùng bốc hơi nếu trài qua một sự tăng nhiệt độ. Trong khi sự tăng nhiệt độ có thể đo đếm được, sự chuyển đổi đòi hỏi một thay đổi về chất. Đào tạo có chất lượng nghĩa là đào tạo gây ảnh hưởng tới thay đổi ở những người tham gia (Astin, 1985, 1991; Kwek, Lau, Tan, 2010). - Tiếp cận chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua khách hàng Cách tiếp cận khái niệm chất lượng thông qua khách hàng làm thay đổi quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học (Ellis, 1993).
Trước đây, theo cách tiếp cận truyền thống, khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học được thiết lập bởi các trường ĐH hay bởi các chuyên gia, các nhà nghiên cứu giáo dục. Nhiệm vụ các trường ĐH là quản lý theo kế hoạch nhằm đảm bảo sản phẩm đào tạo đáp ứng được chuẩn chất lượng đã thiết kế mà không lưu tâm đến nhu cầu của khách hàng, không tiến hành đánh giá, lấy ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm đào tạo [40].