Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm về công chức Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau về công chức. Chính vì vậy đối tượng được hiểu là công chức cũng đa dạng, khác nhau: Ở Nhật Bản, công chức được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trừ lực lượng tự vệ.
Và được phân thành 2 loại: công chức nhà nước và công chức chính quyền địa phương. Công chức nhà nước lại chia làm 2 loại là công chức chung và công chức đặc biệt (bao gồm Thủ tướng, Bộ trưởng, Thành viên Quốc hội, người đứng đầu các cơ quan công quyền do được bầu cử, thẩm phán…) [20]. Ở Pháp, công chức là những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, những người tham gia làm các dịch vụ công [20]. Từ trên có thể thấy những đối tượng được coi là công chức ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có phạm vi khác nhau.
Có quốc gia thì quy định công chức là toàn bộ những người làm việc trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả các quan QLNN, đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an). Có quốc gia lại quy định công chức là những người làm việc trong các cơ quan QLNN hay hẹp hơn là cơ quan quản lý HCNN. Dưới góc độ khoa học quản lý thì khái niệm về công chức được hiểu chung nhất là một nghề trong xã hội và gắn liền với khu vực công. * Khái niệm về công chức ở Việt Nam: Khái niệm về công chức cũng có những thay đổi theo thời gian kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay.
Theo Luật Cán bộ, 9 công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều cảu luật cán bộ, công chức, viên chức số 52/2019/QH14 ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019, thì công chức được định nghĩa như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Từ đó có thể thấy, công chức theo pháp luật Việt Nam không chỉ bao gồm những người làm việc trong các cơ quan nhà nước mà còn bao gồm những người làm việc trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là một điểm đặc thù của Việt Nam, rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả luận văn chỉ tập chung nghiên cứu đến đối tượng là công chức trong hệ thống cơ quan HCNN nói chung và công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện nói riêng. Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện Để quản lý xã hội hầu hết chính quyền địa phương các quốc gia trên thế giới đều tổ chức các cơ quan tham mưu, giúp việc cho hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.
Theo pháp luật Việt Nam, các cơ quan chuyên môn (CQCM) thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) giúp UBND cùng cấp thực hiện 1 chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19 tháng 06 năm 2015, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được quy định: “1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.
Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn. Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.” Tại Khoản 2, Điều 27 quy định: “Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng.” Như vậy, có thể hiểu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là các Phòng, cơ quan tương đương, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo 1 quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Các Phòng, cơ quan tương đương Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được tổ chức thống nhất trên cả nước bao gồm: Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Y tế, Thanh tra huyện, Văn phòng HĐND và UBND.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được tổ chức để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện: - Ở các quận: Phòng Kinh tế, Phòng Quản lý Đô thị. - Ở các thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Phòng Kinh tế, Phòng quản lý Đô thị. - Ở các huyện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Dân tộc. Luận văn nghiên cứu về các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện ở nông thôn.
Do đó, theo quy định của pháp luật, cơ cấu tổ chức của các quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện ở nông thôn được tổ chức như sau: 1 CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH CÁC CQCM THUỘC UBND HUYỆN Văn phòng Phòng Lao Phòng Tài Phòng Tài Phòng Nông Phòng Văn Thanh tra HĐND động - chính - Kế nguyên và nghiệp và hóa huyện và UBND Thương hoạch Môi trường Phát triển - Thông tin huyện binh và Xã Nông thôn hội Phòng Phòng Phòng Phòng Phòng Dân Phòng Tư Giáo Y Nội Kinh tế tộc pháp dục và tế vụ và Hạ Đào tạo tầng Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện tại nông thôn Về nhiệm vụ, quyền hạn của các CQCM thuộc UBND cấp huyện được quy định chi tiết tại Điều 4, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ: “1. Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao. Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý được giao; theo dõi thi hành pháp luật. Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của CQCM theo quy định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc các lĩnh vực quản lý của CQCM theo quy định của pháp luật. Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực quản lý của CQCM cho cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã). Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ của CQCM cấp huyện. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện và sở quản lý ngành, lĩnh vực.
Kiểm tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật, theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính của CQCM theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1.