phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chƣơng. Cơ sở khoa học về chất lƣợng công chức ngành thanh tra Chƣơng 2. Thực trạng chất lƣợng công chức ngành thanh tra tỉnh Bo keo, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Chƣơng 3. Quan điểm giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức ngành thanh tra tỉnh Bo Keo, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA 1.
Công chức ngành thanh tra 1. Khái niệm a, Thanh tra Theo Từ điển tiếng Việt “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra thƣờng đi kèm với một chủ thể nhất định: “Ngƣời làm nhiệm vụ thanh tra”, “Đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”.
Theo kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nƣớc “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc” do TS. Trần Đức Lƣợng làm chủ nhiệm thì khái niệm thanh tra đƣợc xác định: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nƣớc, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thƣờng đƣợc thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ƣu điểm, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo Từ điển Luật học thì “thanh tra” là sự tác động của chủ thể đến đối tƣợng đã và đang thực hiện thông qua đƣợc giao nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định”. Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm thanh tra đƣợc định nghĩa trong 7 Luật Thanh tra năm 2004 dƣới khái niệm thanh tra nhà nƣớc.
Theo đó, thanh tra nhà nƣớc là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nƣớc bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Luật Thanh tra năm 2010 thay thế cho Luật Thanh tra năm 2004 cũng đƣa ra định nghĩa tƣơng tự: Thanh tra nhà nƣớc là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luật Thanh tra năm 2007 định nghĩa: Thanh tra là sự giám sát, thu thập thông tin, bằng chứng về việc tổ chức thực hiện chính sách, nhiệm vụ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong cơ quan hành chính nhà nƣớc để xem xét, đánh giá nhận xét kết quả tổ chức thực hiện công việc đó.
Đồng thời đề xuất phƣơng hƣớng và biện pháp cho cơ quan hữu quan giải quyết kết quả của việc thanh tra theo luật định. Nhƣ vậy có thể thấy, khái niệm về thanh tra của Việt Nam và Lào cơ bản là giống nhau trên góc nghiên cứu cũng nhƣ thực tiễn. Từ những quan điểm, sự phân tích nên trên, tác giả cho rằng khái niệm thanh tra đƣợc hiểu nhƣ sau: Thanh tra có tính chất nhà nước của cơ quan quản lý cấp trên đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cấp dưới do tổ chức thanh tra thực hiện. Có trách nhiệm thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
8 Đó là khái niệm về thanh tra, còn ngành thanh tra tác giả cũng cho rằng đó là hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra. Trong đó, hệ thống cơ quan thanh tra bao gồm Thanh tra hành chính và cơ quan đƣợc giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nƣớc; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nƣớc do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập; Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lí của nhiều bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra sau thanh tra của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi cần thiết; Thanh tra vụ việc khác do Thủ tƣớng giao.
- Thanh tra Bộ và cơ quang ngang Bộ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nƣớc do Bộ trƣởng quyết định thành lập; Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nƣớc của ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách; Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trƣởng cơ quan đƣợc giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ… 9 - Thanh tra Tỉnh có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của sở, của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nƣớc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm của nhiều sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao. - Thanh tra Sở có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Xây dựng kế hoạch thanh tra trình giám đốc sở phê duyệt; Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của sở. - Thanh tra Huyện có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thanh tra vụ việc phức tạp, có liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao b, Công chức: Cán bộ, công chức là “rƣờng cột” của bộ máy nhà nƣớc, là những ngƣời trực tiếp tổ chức và vận hành đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả bộ máy đó. Trong các cơ quan hành chính nói chung, ở Cộng a dân chủ nhân dân Lào nói riêng, cán bộ, công chức là nguồn nhân lực chủ yếu, trong đó đa số đội ngũ cán bộ, công chức giữ các chức vụ khác nhau.
Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một quốc gia, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau, ở từng thời kỳ phát triển khác nhau, song nhìn chung, các nƣớc đều giới hạn công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nƣớc. Những ngƣời hoạt động do bầu cử, hoạt động kinh doanh không phải là công chức. 10 Khái niệm công chức lần đầu đƣợc nêu trong Nghị quyết số 171/NQ- TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về “Quy chế công chức Lào” do Khăn Tay SI PHĂN DONE ký (có hiệu lực từ ngày 11 tháng 11 năm 1993).
Tại điều 2 Quy chế công chức Lào định nghĩa: “Công dân Lào đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong một cơ sở Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngành, hƣởng lƣơng do ngân sách Nhà nƣớc cấp gọi là công chức”. Theo quy chế này, phạm vi công chức còn khá hẹp (là ngƣời làm công ăn lƣơng trong các cơ quan chính phủ), song do điều kiện chiến tranh nên thực tế nghị quyết chƣa đƣợc thực hiện. Sau thời gian dài, khái niệm công chức không đƣợc đề cập đến, trong cơ chế hành chính tập trung quan liêu bao cấp, chúng ta có phạm trù “cán bộ công nhân viên chức nhà nƣớc” đây là tập hợp tất cả những ngƣời đƣợc tuyển dụng vào biên chế làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nƣớc, trong các tổ chức của đảng và trong các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Tuy nhiên đội ngũ công chức có đặc điểm riêng: Công chức là ngƣời làm việc chuyên môn, có tính chất lâu dài và ổn định trọng bộ máy nhà nƣớc.
Về khái niệm “cán bộ”. Từ năm 1993 trở đi khái niệm cán bộ đƣợc sử dụng đó là: Ngƣời có trình độ trung cấp trở lên đƣợc giao giữ một nhiệm vụ lâu dài trong các cơ quan nhà nƣớc, trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc và sĩ quan trong lực lƣợng vũ trang nhân dân. Cán bộ đƣợc hình thành nên do bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, phân công công tác khi tốt nghiệp các trƣờng trung cấp và đại học. Cán bộ đƣợc phân biệt khác với công nhân về vị trí làm việc và trình độ.
Có 6 loại cán bộ: + Các nhà hoạt động chính trị; + Ở các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nƣớc; 11 + Trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; + Trong các doanh nghiệp nhà nƣớc; + Trong các lực lƣợng vũ trang (sĩ quan); + Cán bộ bản.