Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số vấn đề lý luận về công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức, công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia.
Việc xác định ai là công chức thường do phụ thuộc vào hệ thống thể chế chính trị, hệ thống thể chế hành chính, tính truyền thống, sự phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố văn hóa. Quan niệm công chức ở các quốc gia khác nhau là khác nhau, như: - Nước Đức: Công chức là những nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học. - Trung Quốc: Công chức là những người thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước thuộc biên chế hành chính của nhà nước, hưởng lương và các phúc lợi xã hội từ nguồn ngân sách nhà nước. - Pháp: Công chức gồm hai loại: những nhân viên công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước chi phối bởi luật công chức và những nhân viên công chức bị chi phối bởi luận lao động, bởi hợp đồng lao động và luật tư.
- Nhật: Công chức gồm có công chức trung ương và công chức địa phương. - Ca-na-da: Chỉ những người làm trong bộ máy Chính phủ (cơ quan trung ương mới là công chức). Còn làm việc ở địa phương không là công chức nhưng được hưởng quy chế như công chức. Tuy quan niệm khác nhau, nhưng điểm đều chung ở một điểm là “Công dân của nước đó, được tuyển dụng qua thi tuyển, được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
9 Hiện nay, để đưa ra khái niệm đầy đủ về công chức, tách biệt và phân định rõ ràng giữa công chức với viên chức, tác giả đồng ý với quan điểm về công chức được nêu tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, có thể thấy đặc trưng của công chức là: - Về cách thức hình thành: được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; trong cơ quan Quân đội và Công an. - Tính chất công việc: công chức là người làm việc thường xuyên, có tính chuyên môn nghiệp vụ rõ ràng gắn với vị trí, nghiệp vụ. Tính thường xuyên thể hiện ở việc, làm việc suốt đời, không có hợp đồng làm việc như viên chức, không bị giới hạn nhiệm kỳ như cán bộ, tính chuyên môn nghiệp vụ được thể hiện là công chức được xếp vào một ngạch, chức danh cụ thể.
- Về hợp đồng làm việc: không có hợp đồng làm việc. - Về nơi làm việc: cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội (không phải sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng); cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân (không phải sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp). - Về tiền lương và biên chế: Trong biên chế Nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các chế độ có liên quan theo quy định của pháp luật. Khái niệm công chức cấp xã Theo Khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Theo Khoản 2, Điều 3 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ, công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: - Trưởng Công an. - Chỉ huy trưởng Quân sự. - Văn phòng - Thống kê. - Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn).
hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã). - Tài chính - Kế toán. - Tư pháp - Hộ tịch. Việc bố trí số lượng công chức cấp xã hiện nay được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 13/2019/TT-BNV.
Theo đó, mỗi chức danh công chức cấp xã được bố trí từ 01 người trở lên, việc bố trí tăng thêm người ở một số chức danh công chức cấp xã phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng phường, xã, thị trấn (trừ chức danh Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã) do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quy định nhưng không vượt quá tổng số cán bộ, công chức cấp xã quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐ-CP). Hiện nay, số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Tùy vào xã loại I, loại II, loại III mà số lượng công chức cấp xã từ 19-23 người. Trong đó, cán bộ gồm: Bí thư, Phó 11 Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam; Bí thư đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Còn lại số lượng công chức ở một xã từ 11-13 người. Như vậy, từ những quy định nêu trên, quan điểm của tác giả về công chức cấp xã như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một trong bảy chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được xác định cụ thể về số lượng, tên gọi, tiêu chuẩn, chức năng hoạt động gắn với từng vị trí việc làm nhằm thực hiện nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cơ sở”. Đặc điểm công chức cấp xã Công chức cấp xã trước hết cũng mang đầy đủ những đặc điểm chung của công chức. Tuy nhiên, do đặc thù làm việc ở đơn vị hành chính cấp cơ sở là cấp xã, nên ngoài những đặc điểm chung, công chức cấp xã còn có những đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, công chức cấp xã là những người thực thi hoạt động công vụ ở cơ sở.
Họ là những người trực tiếp làm việc với người dân trên địa bàn địa phương đó, giải quyết các nhu cầu cơ bản, thiết yếu nhất của người dân. Do vậy, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do các công chức cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời thông qua nhân dân để đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách, kịp thời phát hiện ra những thiết sót của chính sách để Đảng và Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, ban hành các chủ trương, chính sách có tính khả thi. Vì họ ở cấp cơ sở, là cấp thực thi, nên họ làm sai hay làm đúng sẽ ảnh hưởng lớn uy tín của Đảng, Nhà nước. Do vậy, đòi hỏi công chức phải có những hiểu biết nhất định về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ và am hiểu tình hình thực tế địa phương, nắm bắt được đặc điểm, tâm lý của từng lớp dân cư thuộc phạm vi của 12 mình quản lý.
Đặc biệt, công chức cấp xã phải trang bị cho mình các kỹ năng mềm, như kỹ năng tổ chức, lôi cuốn mọi người vào hoạt động, kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh, kỹ năng báo cáo và tổng hợp báo cáo và kỹ năng thực hiện. Thứ hai, công chức cấp xã hầu hết là người địa phương, sinh sống tại địa phương và gắn bó mật thiết với nhân dân. Họ là những người cư trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ với nhân dân địa phương, có mối quan hệ trực tiếp với người dân, gia đình. Do đó, công chức cấp xã luôn chịu tác động của các mối quan hệ đan xen, phức tạp vừa là người đại diện cho quyền lực Nhà nước tại địa phương, vừa là người dân cùng địa bàn.
Những mối quan hệ này vừa thống nhất nhưng vừa mâu thuẫn, ảnh hưởng không nhỏ đến thực thi công vụ. Ngoài ra, công chức không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật, sự quản lý hành chính của nhà nước mà còn chịu sự chi phối bởi các thiết chế của cộng đồng như: hương ước, quy ước; dòng họ, các tố chức phường, hội,. Một mặt mang tính chất tự quản cộng đồng nhưng mặt khác lại mang tính chất quản lý nhà nước. Với tính chất tự quản, họ đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân nông thôn, thực hiện nhiệm vụ quản lý, tố chức các hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của địa phương; đồng thời còn là cầu nối giữa người dân với nhà nước.
Với tính chất quản lý nhà nước, công chức cấp xã nhân danh Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn. Công chức cấp xã phải bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước, vận hành theo thiết chế của quyền lực nhà nước. Thứ ba, hoạt động công vụ của công chức cấp xã là hoạt động đa dạng, phức tạp; môi trường làm việc, đối tượng tiếp xúc của công chức xã rất rộng, “là người làm dâu trăm họ”, phải chăm lo giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Những công việc liên quan trực tiếp theo yêu cầu của nhân dân (khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, giải quyết các vấn đề đất đai, môi trường.
Đây đều là những công việc thường xuyên, phức tạp tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, lợi ích khác nhau của mỗi người dân. Điều này đòi hỏi mỗi công 13 chức cấp xã phải là những người chuyên nghiệp, có chuyên môn sâu, am hiểu thực tế và có kinh nghiệm trong giải quyết tình huống.