Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất lượng cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã. Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 1.
Khái quát về đơn vị hành chính và chính quyền cấp xã 1. Đơn vị hành chính cấp xã Việt Nam là một nước nông nghiệp, có khoảng 76% cư dân sống ở nông thôn với khoảng hơn 60 triệu nông dân trong tổng số hơn 80 triệu dân của cả nước. Từ bao đời nay, làng xã Việt Nam đã trở thành đơn vị hành chính cơ sở, nơi cộng đồng dân cư sinh sống, gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hoá. Các đơn vị làng xã có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại như một môi trường, một không gian - xã hội, một đơn vị hành chính - lãnh thổ với những đặc điểm khác nhau về địa lý, dân cư, kinh tế, văn hoá v.
Tại Điều 2, Luật số 77/2015/QH 13 ngày 19/6/2015 của Quốc Hội về “Luật tổ chức chính quyền địa phương”, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) gồm có: 1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); 3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 4.
Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Từ khi Nhà nước xuất hiện và có sự phân chia lãnh thổ thì vấn đề phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ luôn là vấn đề quan trọng và được quy định trong Hiến pháp - văn bản có tính pháp lý cao nhất. Theo Hiến pháp năm 2013, quy định về các đơn vị hành chính nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt, ổn định trong cấu trúc hành chính ở nước ta đồng thời bổ sung quy định về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, đơn vị hành chính tương đương với quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó “chính quyền địa phương nước ta chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố 7 Luan van trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường; đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập” [35].
“Cấp xã” hiện nay là tên gọi chung của các đơn vị hành chính địa phương trong hệ thống các đơn vị hành chính ở Việt Nam. Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã được dùng để chỉ toàn bộ các đơn vị hành chính cấp cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn trong đó xã là chủ yếu, chiếm 85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, thuộc địa bàn nông thôn, chiếm số lượng hơn hẳn so với phường thuộc địa bàn đô thị. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2014, nước ta có 11.161 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, trong đó có 9.001 xã, 615 thị trấn, 1545 phường. Chỉ trong vòng 2 năm từ 2012 (11.120 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, trong đó 9.048 xã, 622 thị trấn, 1450 phường) đến năm 2014 đã tăng 41 đơn vị, trong đó giảm 47 xã, tăng 95 phường và giảm 7 thị trấn.
Quảng Ninh có 186 đơn vị hành chính xã, phường, Thị trấn, trong đó có 61 phường, 10 thị trấn, 115 xã. Dưới xã, phường, thị trấn có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, bản, làng, ấp, buôn. Dưới phường, thị trấn có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã giữa phường và tổ dân phố có cụm dân cư, giữa xã và thôn có khu hành chính. Số lượng xã, phường, thị trấn trong những năm qua không ổn định.
Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành lập mới các xã, phường, thị trấn diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính quyền cấp xã Hội nghị Trung ương V khoá IX, họp tại Hà Nội, năm 2002 xác định: “Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống”, nơi diễn ra tất cả các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Từ khi có chính thể dân chủ cho tới nay chúng ta mới nói tới xã như một tập hợp mở rộng của các làng và coi xã là cấp cơ sở ở nông thôn trong hệ thống chính trị (HTCT) bốn cấp quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) ở nước ta hiện nay, gồm: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. 8 Luan van Cấp xã là đơn vị cấp cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống QLHC, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng cái thấp nhất không đồng nghĩa với cái ít quan trọng nhất.
Do vậy, cấp xã là chủ yếu và điển hình, bao trùm và phổ biến trong sự hình dung về cấp cơ sở, về đời sống KT- XH và văn hoá cũng như về HTCT ở cơ sở hiện nay. Cấp xã được xem là cơ sở của xã hội, là nơi cư trú, sinh sống của người dân, nơi thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu nối trực tiếp giữa dân với Đảng. Mối quan hệ công tác của HTCT cấp cơ sở thể hiện trong cơ chế tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động: tổ chức Đảng có vai trò hạt nhân lãnh đạo của HTCT cơ sở; chính quyền xã, phường, thị trấn có vai trò QLNN; Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức thành viên bao gồm Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (ĐTNCSHCM), Hội Nông dân (HND), Hội liên hiệp Phụ nữ (HLHPN) và Hội Cựu chiến binh (HCCB), v.có vai trò đoàn kết, tập hợp quần chúng tham gia vào các hoạt động xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện dân chủ ở cơ sở. Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của Nhà nước và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của nhà nước, bằng phương thức tác động của Nhà nước.
Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND, hoạt động theo Luật tổ chức chính quyền địa phương. Trong đó, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở và là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan HCNN ở cơ sở. Chính quyền cấp xã không chỉ là nơi thực thi quyền lực của nhân dân, đảm bảo dân chủ mà còn là chủ thể tổ chức các hoạt động của cộng đồng trên địa bàn như các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
một mặt chăm lo tổ chức các hoạt động cộng đồng; mặt khác, là công cụ của Nhà nước để ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và quyền làm chủ của nhân dân. Chính quyền cấp xã được củng cố và hoàn thiện sẽ được đông đảo quần chúng nhân dân tín nhiệm và tin tưởng; những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và phát triển KT- XH được thực hiện có hiệu quả hơn. Chính quyền cấp xã còn gọi là chính quyền cấp cơ sở là bởi: 9 Luan van Một là, cấp này đáp ứng đủ các yếu tố cấu thành một cấp chính quyền: Được Nhà nước quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập và được trao chức năng, nhiệm vụ để thay mặt Nhà nước thực hiện công việc quản lý tại địa phương; Có cơ chế bầu cử cán bộ địa phương, có tính tự quản nhất định; Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên. Hai là, đây là cấp chính quyền thấp nhất và không có cấp chính quyền nào thấp hơn chính quyền xã, phường, thị trấn.
Đây là cấp gần nhân dân nhất so với các cấp chính quyền khác. Tổ chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở gồm có HĐND xã và UBND xã, không có các cơ quan tổ chức chuyên môn như phòng mà chỉ có các công chức cấp xã. Từ kết quả phân tích trên, chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực Nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, AN-QP và đời sống của nhân dân địa phương theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong thời kỳ hoạt động bí mật, cấp xã là địa bàn quan trọng, ở đó có các tổ chức của Đảng được nuôi dưỡng, bảo vệ và hoạt động tuyên truyền, giác ngộ nhân dân lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh cách mạng giành chính quyền.
Khi giành được chính quyền trên phạm vi cả nước, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền giữ vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội thì cấp xã càng trở nên quan trọng hơn, bởi cấp xã là cấp cuối cùng, là nơi tổ chức, hiện thực hoá và kiểm nghiệm tính đúng đắn đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nơi đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Là địa bàn thuận lợi để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc. 10 Luan van Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, vai trò cấp xã nâng lên một tầm cao mới. Chính quyền cấp xã là nơi giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân.
Vì vậy, chính quyền cơ sở phải được tổ chức phù hợp để có thể phục vụ nhân dân một cách tốt nhất, hiệu quả nhất, tạo niềm tim trong nhân dân.