Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cán bộ cấp xã 1. Khái niệm cán bộ cấp xã Thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục năm gần đây, được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Từ đó đến nay thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Có nhiều cách hiểu về cán bộ có thể kể đến như: “Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nồng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” [24]. “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt ra chính sách đúng. Vì vậy cán bộ là cái góc của mọi việc” [24].
Theo điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ cấp xã được định nghĩa như sau: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”. Như vậy, cán bộ cấp xã là: - Công dân Việt Nam. - Được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ. 10 Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã có 08 chức danh sau đây: - Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. - Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ.
- Chủ tịch Hội Nông dân. - Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh. - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đặc điểm của cán bộ cấp xã Cán bộ cấp xã là những người gần dân, sát dân, gắn bó mật thiết với nhân dân và là người trực tiếp triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân.
Cán bộ cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ nhà nước cấp trên và nhiều khi phải kiêm nhiệm nhiều công việc. Cán bộ cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân ở cơ sở, vì vậy cán bộ cấp xã luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân. Cán bộ cấp xã là người trực tiếp giải quyết yêu cầu, nguyện vọng, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở (người của địa phương) họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân, vừa là người thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết 11 các công việc của Nhà nước.
Do đó, xét ở một khía cạnh nào đó, cán bộ cấp xã bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán, những nét văn hoá đặc thù riêng của địa phương. Cán bộ cấp xã do dân bầu ra, vì vậy số lượng cán bộ cấp xã thường xuyên có biến động do hết nhiệm kỳ nhân dân lại bầu các đại diện mới. Số lượng cán bộ cấp xã hiện nay nhiều, nhưng độ tuổi cao, chất lượng chưa đảm bảo. Đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp xã thường không cao.
Vai trò của cán bộ cấp xã - Đội ngũ cán bộ cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. - Đội ngũ cán bộ cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện các quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như các chương trình, kế hoạch của chính quyền xã. - Cán bộ cấp xã là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân địa phương. - Cán bộ cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và phát triển các phong trào thi đua của các tầng lớp nhân dân ở cơ sở.
Chức năng, nhiệm vụ của cán bộ cấp xã Theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, chức năng, nhiệm vụ đối với từng chức danh cán bộ cấp xã cụ thể như sau: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ: là cán bộ chuyên trách công tác Đảng ở Đảng bộ, chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng bộ) xã, phường, thị trấn, có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng 12 bộ, chi bộ, cùng tập thể đảng uỷ, chi uỷ lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên địa bàn xã, phường, thị trấn. + Nhiệm vụ của Bí thư: Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết và chỉ thị của cấp trên và chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cấp mình; nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất; nắm chắc và sát tình hình đảng bộ, tổ chức đảng trực thuộc và của nhân dân trên địa bàn; chịu trách nhiệm chủ yếu về các mặt công tác của đảng bộ. Chủ trì cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và chỉ đạo việc chuẩn bị xây dựng nghị quyết của đảng bộ, của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nghị quyết đó. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động và giữ vai trò trung tâm đoàn kết giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn.
Lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, của đảng bộ, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Đảng uỷ. + Nhiệm vụ của Phó Bí thư: Giúp Bí thư đảng bộ chuẩn bị nội dung các cuộc họp và dự thảo nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ về các mặt công tác của Đảng bộ. Tổ chức việc thông tin tình hình và chủ trương của Ban chấp hành, Ban thường vụ cho các Uỷ viên Ban chấp hành và tổ chức đảng trực thuộc. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cấp trên, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân: là cán bộ chuyên trách của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo Tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã, bảo 13 đảm phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn. + Nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Triệu tập, chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp Hội đồng nhân dân; chủ trì trong việc tham gia xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Giữ mối quan hệ với đại biểu Hội đồng nhân dân, phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, thông báo hoạt động của Hội đồng nhân dân với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Chủ trì và phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. + Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Căn cứ vào nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Chủ tịch Hội đồng nhân dân phân công cụ thể và thay mặt Chủ tịch Hội đồng nhân dân giải quyết công việc khi Chủ tịch Hội đồng nhân dân vắng mặt.
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân: là cán bộ chuyên trách lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân và hoạt động quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng đã được phân công trên địa bàn xã, phường, thị trấn.