CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN VĂN HOÁ CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 7 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm văn hoá Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.
Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người - văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết). Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura.
Những chữ này lại có chung gốc La tinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. [42] Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản và thay đổi theo thời gian, vấn đề văn hoá trở thành trung tâm chú ý của giới nghiên cứu trên thế giới từ xưa đến nay. Mỗi học giả ở mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau đều có cách lý giải và định nghĩa không hoàn toàn giống nhau.
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí 9 8 lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E. Taylor) là đại diện của họ.
Theo ông, văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội. Klúchôn (C L Kluckhohn) quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác. Học giả pháp Abragam Moles cho rằng “Văn hoá đó là chiều cạnh trí tuệ môi trường nhân tạo, do con người xây dựng nên trong tiến trình đời sống xã hội văn minh” Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa “Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Văn hoá là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội”.1329-1330] Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân định nghĩa: Văn hoá (danh từ) là “Toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và tiểu biểu cho trình độ xã hội đã đạt được trong từng giai đoạn, về các mặt học vấn, khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức, sản xuất.
[28] Trong phần cuối tập “Nhật ký trong tù”, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nêu ra một quan niệm về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi 10 phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [29, tr.431] Tổng giám đốc UNESC o F ederico Mayor định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Tóm lại, văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt động sản xuất, nếp suy nghĩ, cách sống và sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau bởi vì khái niệm văn hoá bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán. Khái niệm công sở Theo nghĩa cổ điển, công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước để tiến hành một công việc chuyên ngành của Nhà nước, ví dụ như cơ quan hành chính nhà nước, các viện nghiên cứu, bệnh viện, trường học,. Đây là một loại công sở nói chung có tư cách pháp nhân, được điều chỉnh bằng công pháp và phụ trách quản lý mọi công việc hay một loại hoạt động dịch vụ công có tính chất chuyên ngành.
Xét về nội dung công việc, hoạt động của công sở nhằm thoã mãn các lợi ích chung của cộng đồng, do vậy, cần được sự bảo vệ và kiểm tra của Nhà nước và chỉ có Nhà nước mới bảo đảm thoả mãn nhu cầu này. Xét về hình thức tổ chức, công sở là một tập hợp có cơ cấu tổ chức, có phương tiện vật chất và con người được Nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình. Hình thức tổ chức của công sở do Nhà nước quy định và lệ thuộc và phương thức điều hành của bộ máy nhà nước. Xét trên ý nghĩa tổ chức nhà nước, khái niệm công sở gần nghĩa với cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước.
Từ đó có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ 1 0 quan Nhà nước, do Nhà nước lập ra. Trên phương diện lịch sử, thuật ngữ “công sở” được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu từ cuối thế kỷ XVIII cùng với thuật ngữ “cơ quan”. Nó được hiểu theo nghĩa rộng là cơ quan quản lý và nghĩa hẹp là trụ sở làm việc của các cơ quan. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 “Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc” Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được Nhà nước giao.
Là nơi tiếp nhận đề nghị, yêu cầu, khiếu nại của dân. Do đó, công sở là một bộ phận hợp thành thiết yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước. Công sở có một số đặc điểm sau: - Một là, công sở là một pháp nhân. Công sở là đơn vị được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện một công việc nhất định, thường xuyên và liên tục.
Công sở có vị trí pháp luật nhất định, có cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể theo quy định pháp luật và chịu sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. - Hai là, công sở là cơ sở để đảm bảo công vụ. Công sở có các điều kiện và phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện công vụ; được nhà nước trao thẩm quyền, thay mặt Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết công việc; có bộ máy tổ chức chặt chẽ theo hệ thống thức bậc; có đội ngũ cán bộ, công chức có kỹ năng chuyện nghiệp để thực hiện nhiệm vụ; mọi công sở đều có công quỹ và tài sản công. - Ba là, công sở có quy chế cần thiết để thực hiện các chuyên môn do Nhà nước quy định.
Để có cơ sở trong quá trình hoạt động, công sở được quy định 1 1 những thẩm quyền cụ thể, các hành vi diễn ra trong công sở được đặt trong những định chế pháp lý thích ứng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, các công sở đều phải dựa vào quy định chung của pháp luật, đồng thời trong từng công sở đều phải có quy định cụ thể phù hợp với yêu cầu hoạt động của mình. Khái niệm văn hoá công sở Khi nói đến văn hoá của một tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử,. được thể hiện thông qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc.
Văn hoá tổ chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức. Những quan niệm này phần lớn được các thành viên ngầm định trong nhận thức, hành vi, ứng xử và chỉ thích hợp cho tổ chức riêng của họ. Văn hoá tổ chức có vai trò gắn kết các thành viên tạo nên sự ổn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác và tự nguyện. Các yếu tố văn hoá được chọn lọc và tạo ra có vai trò như một cơ chế khẳng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, giữa cá nhân với tổ chức, giữa thành viên với lãnh đạo.
Như vậy, văn hoá tổ chức là toàn bộ các yếu tố văn hoá được chủ thể (tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động, từ đó tạo nên bản sắc riêng của một tổ chức.