CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Công nhân kỹ thuật Đào tạo công nhân kỹ thuật là mảng đào tạo chính, mang tính chiến lược trong quá trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật. Do đó biết được khái niệm về công nhân kỹ thuật là quan trọng và cần thiết.
Theo Từ điển thuật ngữ của Bộ Lao động Thương Binh – Xã hội thì: Công nhân kỹ thuật được hiểu là loại lao động được đào tạo được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp quốc dân thống nhất để có năng lực thực hiện các công việc phức tạp, tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phục vụ quốc tế dân sinh. Trong giáo trình kinh tế nguồn nhân lực do PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh làm chủ biên cũng đưa ra khái niệm về công nhân kỹ thuật như sau: Công nhân kỹ thuật là người được đào tạo và được cấp bằng (đối với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề dài hạn từ 1 đến 3 năm) hoặc chứng chỉ (đối với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới 1 năm) của bậc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục để có năng lực thực hành – thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu. Thực tế có những công nhân có tay nghề rất giỏi, họ có kinh nghiệm làm việc lâu năm nhưng lại không có kiến thức bài bản về lý thuyết mà chủ 8 yếu là thành thạo về kỹ năng tay nghề những công nhân này muốn trở thành công nhân kỹ thuật cần phải đào tạo thêm và thông qua bài kiểm tra lý thuyết để cấp chứng chỉ công nhân là công nhân kỹ thuật. Trong luận văn này công nhân kỹ thuật được hiểu như sau: Công nhân kỹ thuật là những người đã qua đào tạo nghề dưới hai cách thức là đào tạo dài hạn (từ 12 tháng đến 36 tháng) hoặc đào tạo ngắn hạn (dưới 12 tháng) được cấp bằng hoặc chứng chỉ nghề, hoặc những người đã tích lũy kiến thức qua thực tế đạt được trình độ có trình độ tay nghề và được doanh nghiệp tổ chức thi cấp chứng chỉ.
Như vậy CNKT bao gồm: - Những công nhân đã tốt nghiệp các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề được cấp chứng chỉ, cấp bằng theo quy định của Bộ giáo dục đào tạo. - Những công nhân tích lũy kinh nghiệm lâu năm được công nhận là CNKT thông qua việc doanh nghiệp tổ chức các lớp bồi dưỡng thêm và tổ chức kỳ thi nâng cao tay nghề về lý thuyết và thực hành cho công nhân và cấp chứng chỉ cho công nhân. Đào tạo Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường đại học Kinh tế quốc dân: Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
Tr153] 9 Cũng về vấn đề này, trong Quản trị nhân sự của TS. Nguyễn Hữu Thân lại đưa ra khái niệm về đào tạo như sau: Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành [3.tr285] Như vậy các tài liệu đều đưa ra quan điểm thống nhất rằng: Đào tạo là những hoạt động học tập nhằm nâng cao hiệu quả cho công việc hiện tại của người lao động. Đào tạo khác với phát triển ở chỗ là đào tạo tập trung vào công việc hiện tại với mục đích khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng hiện tại, thời gian đào tạo thường là ngắn hạn và chủ yếu là đào tạo cá nhân.Còn phát triển tập trung cho công việc tương lai với mục đích trang bị những kiến thức kỹ năng để chuẩn bị cho công việc trong tương lai.Thời gian đào tạo thường là đào tạo dài hạn và không chỉ đào tạo cho cá nhân mà còn cho cả tổ chức. So sánh giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo Phát triển 1.Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai 2.Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức 3.Thời gian Ngắn hạn Dài hạn 4.Mục đích Khắc phục sự thiếu hụt về Chuẩn bị cho tương lai kiến thức kỹ năng hiện tại Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực; Trường đại học Kinh tế quốc dân; TS.
Nguyễn Ngọc Quân và Th.S Nguyễn Vân Điềm; NXB Lao động xã hội; 2004 10 1. Đào tạo công nhân kỹ thuật Đào tạo công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp là những hoạt động dạy và học nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để nâng cao hiệu quả công việc hiện tại cho công nhân kỹ thuật. Đào tạo công nhân kỹ thuật bao gồm 3 loại đó là: đào tạo mới, đào tạo lại và bồi dưỡng tay nghề. Đào tạo mới là đào tạo những người chưa tham gia sản xuất hoặc những người tham gia sản xuất nhưng chưa có trình độ tay nghề.
Đào tạo lại là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Bồi dưỡng tay nghề là quá trình cập nhập hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên đề và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Trong xu thế hội nhập về đào tạo lao động kỹ thuật thực hành của thế giới, việc đào tạo CNKT ở nước ta cần tạo ta bước chuyển mới có tính đột phá. Trong hội thảo khoa học về phát triển lao động kỹ thuật năm 2001 – 2010 của Tổng cục dạy nghề, đã đưa ra cấp trình độ mà CNKT được đào tạo như sau: 11 Kỹ thuật viên trình độ cao (Highly Technician) Kỹ thuật viên ( Technician) Công nhân lành nghề trình độ cao (Highly Skilled Worler) Công nhân lành nghề (Skilled Worker) Công nhân bán lành nghề (Semi-Skilled Worker) Công nhân phụ việc, đào tạo phổ cập nghề (Assistant Worker) - Công nhân phụ việc là những công nhân đào tạo phổ cập nghề ( nghề bậc 1), thực hiện những công việc giản đơn của một nghề và thường phụ việc cho công nhân ở bậc cao hơn.
Đào tạo công nhân này chủ yếu là kèm cặp, hướng dẫn làm việc thực tế và học ít lý thuyết. - Công nhân bán lành nghề: Là công nhân được đào tạo ngắn hạn dưới 1 năm, học lý thuyết chuyên môn và chủ yếu là đào tạo thực hành. Công nhân qua đào tạo cấp trình độ này làm được những công việc cơ bản của nghề một cách độc lập. - Công nhân lành nghề: Là công nhân được đào tạo nghề dài hạn, thời gian đào tạo từ 1 đến 2 năm, đào tạo theo mục tiêu chương trình chuẩn của nhà nước.
Sau đào tạo công nhân thực hiện được những công việc phức tạp của một nghề một cách độc lập ; có thể phân tích, giám sát, điều chỉnh quá trình thực hiện công việc; đánh giá được chất lượng sản phẩm; có khả năng phối hợp và hướng dẫn người khác thực hiện. - Công nhân lành nghề trình độ cao: Là những công nhân được đào tạo 12 với thời gian từ 2 đến 3 năm, đào tạo theo mục tiêu chương trình chuẩn của nhà nước quy định. Sau đào tạo có thể làm được những công việc có độ phức tạp cao của nghề một cách độc lập và sáng tạo; có thể quản lý,chỉ đạo hoạt động của một tổ, nhóm sản xuất. - Kỹ thuật viên: Là những người được đào tạo với thời gian từ 2 đến 3 năm, đào tạo theo mục tiêu chương trình chuẩn của Nhà nước quy định.
Sau đào tạo nắm vững lý thuyết nghề, có thể làm được các công việc có độ phức tạp cao của nghề một cách độc lập và sáng tạo; có khả năng tiếp thu và tổ chức thực hiện công nghệ sản xuất đảm bảo quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật. - Kỹ thuật viên trình độ cao: Là những người được đào tạo với thời gian từ 3 năm trở lên, đào tạo theo mục tiêu chương trình chuẩn của nhà nước quy định. Sau đào tạo nắm vững lý thuyết và thực hành nghề ở trình độ cao, có thể làm được các công việc có độ phức tạp rất cao của nghề một cách độc lập và sáng tạo. Tổ chức thực hiện quy trình công nghệ sản xuất đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả cao.
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo công nhân kỹ thuật trong tổ chức 1. Nhân tố khách quan Đào tạo công nhân kỹ thuật có thể chịu sự tác động của các nhân tố khách quan bên ngoài tổ chức như: môi trường kinh tế - xã hội và chính trị của đất nước, đối thủ cạnh tranh, sự phát triển khoa học công nghệ. Hệ thống cơ sở đào tạo Mạng lưới đào tạo của quốc gia ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp.Một mạng lưới đào tạo tốt sẽ giúp cho 13 doanh nghiệp đào tạo được những nhân viên giỏi, nắm bắt nhanh công việc. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo của cơ sở như hệ thống cơ sở vật chất như phòng học, phương tiện giảng dạy, máy móc công nghệ có hiện đại hay không, chất lượng đội ngũ giáo viên…Hiện nay hệ thống giáo dục đào tạo của Việt Nam đã có những bước phát triển mới đó là số lượng và chất lượng các cơ sở ngày càng tăng, phân bổ rộng rãi khắp các vùng , miền trong cả nước sẽ giúp cho doanh nghiệp có nhiều lựa chọn những cơ sở có uy tín, chất lượng và thuận tiện cho việc đào tạo đội ngũ nhân viên.
Tuy nhiên cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, kịp thời nắm bắt nhưng công nghệ tiên tiến trên thế giới nhằm đào tạo ra nguồn lao động chất lượng cao cung ứng và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nhân lực. Ngoài ra số lượng ngành nghề được đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề cũng ảnh hưởng tới hoạt động dạy nghề tại doanh nghiệp.Thực tế có những nghành nghề doanh nghiệp muốn gửi đào tạo tại các cơ sở nhưng ở đó không có giáo viên có chuyên môn về lĩnh vực đấy để đào tạo, gây khó khăn cho doanh nghiệp.