Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Phẫu thuật và gây mê hồi sức là một can thiệp y khoa xâm lấn, thường tạo ra biến cố tâm lý bất lợi đối với người bệnh ngoại khoa. Trạng thái lo lắng xuất hiện trong giai đoạn tiền phẫu gây ảnh hưởng tiêu cực hai chiều lên toàn bộ quá trình điều trị: làm gia tăng cảm giác đau, tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, kéo dài thời gian hồi phục, gia tăng thời gian nằm viện và phát sinh gánh nặng chi phí y tế cho người bệnh lẫn gia đình.
Bên cạnh công tác chuẩn bị thể chất và kỹ thuật, việc nâng cao nhận thức của người bệnh thông qua hoạt động tư vấn, giải thích của nhân viên y tế giữ vai trò then chốt nhằm giảm thiểu nỗi sợ hãi, thiết lập niềm tin và hạn chế các tranh chấp pháp lý y khoa. Xuất phát từ thực tiễn chăm sóc người bệnh ngoại khoa chuyên ngành Tai Mũi Họng, tác giả Đỗ Quang Minh Quân đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả mức độ lo lắng và nhận thức của người bệnh trước phẫu thuật tại Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ lo lắng của người bệnh trước phẫu thuật tại Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
- Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh từ đủ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán mắc các bệnh lý tai mũi họng, có chỉ định phẫu thuật, đồng ý tham gia và có đầy đủ năng lực nhận thức, giao tiếp.
- Phạm vi không gian: Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu được tiến hành từ ngày 01/02/2023 đến ngày 31/03/2023 (toàn bộ khóa luận triển khai từ tháng 01/2023 đến tháng 06/2023).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận tâm lý học y học về căn nguyên lo lắng và nhận thức bệnh tật, kết hợp quy chuẩn quy trình chuẩn bị tiền phẫu ngoại khoa. Để lượng hóa các biến số tâm lý và nhận thức, tác giả sử dụng hai thang đo chuẩn hóa quốc tế đã được kiểm định giá trị tại Việt Nam:
- Thang đo lo âu State-Trait Anxiety Inventory (STAI): Sử dụng bản dịch tiếng Việt của tác giả Trần Văn Lợi, gồm 20 câu đánh giá Trạng thái lo lắng (State Anxiety - phản ánh cảm xúc tức thời trước mổ) và 20 câu đánh giá Đặc điểm lo lắng (Trait Anxiety - phản ánh đặc tính nhân cách lo âu bền vững). Mỗi câu hỏi tính điểm theo thang Likert 4 mức độ (1 đến 4 điểm). Tổng điểm mỗi phân thang dao động từ 20 đến 80 điểm, phân hạng thành 3 mức: không hoặc ít lo lắng (20 - 37 điểm), lo lắng vừa phải (38 - 44 điểm) và lo lắng nhiều (45 - 80 điểm).
- Thang đo mức độ không chắc chắn về bệnh Mishel Uncertainty in Illness Scale (MUIS): Do Mishel thiết kế năm 1983, gồm 28 câu hỏi Likert 5 mức độ (1 đến 5 điểm), chia thành 2 nhóm nội dung (sự không rõ ràng gồm 13 mục và sự phức tạp). Tổng điểm dao động từ 28 đến 140 điểm, phân thành 3 mức độ: không chắc chắn thấp (28 - 56 điểm), vừa phải (57 - 84 điểm) và cao (85 - 140 điểm). Điểm số MUIS phản ánh mức độ thiếu hụt thông tin và nhận thức chưa rõ ràng của người bệnh về tình trạng bệnh tật.
| Tiêu chí phương pháp luận |
Chi tiết áp dụng trong khóa luận |
| Thiết kế nghiên cứu |
Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Cross-sectional descriptive study) |
| Cỡ mẫu và chọn mẫu |
Chọn mẫu thuận tiện; tính theo công thức ước tính một tỷ lệ ($p=0.96; d=0.1$; cỡ mẫu lý thuyết 93 người, cộng thêm 10% dự phòng thành 102 người). Thực tế thu thập đủ điều kiện phân tích $N = 123$ người bệnh |
| Kỹ thuật thu thập |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi tự điền vào đêm trước ngày phẫu thuật trong quy trình chuẩn bị tiền phẫu |
| Xử lý và phân tích số liệu |
Phần mềm SPSS 22.0; thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình, độ lệch chuẩn) và thống kê suy luận (kiểm định Chi-bình phương $\chi^2$, tỷ số chênh Odds Ratio - OR với khoảng tin cậy 95% CI, hệ số tương quan tuyến tính Pearson $r$, mức ý nghĩa thống kê xác định tại $p < 0.05$) |
| Đạo đức nghiên cứu |
Được sự phê duyệt của Hội đồng và Ban Giám đốc cơ sở; đảm bảo tính tự nguyện, bảo mật danh tính tuyệt đối |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương này hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về tâm lý lo âu của người bệnh ngoại khoa, chỉ rõ mối quan hệ tương hỗ giữa bệnh tật và cấu trúc nhân cách, hình ảnh lâm sàng bên trong (gồm phần cảm giác bệnh và phần trí tuệ), cũng như các phản ứng cảm xúc. Tác giả tổng thuật các yếu tố tác động đến tâm lý tiền phẫu như tiền sử phẫu thuật, quan hệ giao tiếp với thầy thuốc, mức độ hiểu biết bệnh lý và điều kiện kinh tế - gia đình.
Phần tổng quan thực trạng trích dẫn nhiều công trình quốc tế và trong nước: nghiên cứu của Leung và cộng sự (2019) chứng minh điểm STAI Trạng thái $\ge 40$ làm tăng nguy cơ mê sảng sau mổ ở người cao tuổi; nghiên cứu của Li và cộng sự (2020) chỉ ra lo âu trạng thái tương quan thuận với mức độ đau sau phẫu thuật cột sống; nghiên cứu của Aldehaim và cộng sự (2019) ghi nhận 40% người bệnh phẫu thuật có lo âu trạng thái lâm sàng.
Về mặt nhận thức và giao tiếp, chương 1 phân tích vai trò của điều dưỡng, tổng hợp 20 nội dung tư vấn tiền phẫu theo nghiên cứu của Kim Bảo Giang (2018) và các khảo sát của Bùi Thị Thu (2015), Nguyễn Thị Phương Hoa (2015). Đồng thời, tác giả giới thiệu cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, năng lực chuyên môn của Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai cùng quy trình chuẩn bị người bệnh tiền phẫu (tư vấn phẫu thuật, khám tiền mê, điều dưỡng thăm khám, bilan xét nghiệm, vệ sinh chống nhiễm trùng, nhịn ăn uống 8 giờ trước mổ và test dị ứng kháng sinh).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chuẩn xác tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ người bệnh tham gia nghiên cứu tại Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai trong thời gian từ 01/02/2023 đến 31/03/2023. Tác giả mô tả chi tiết quy trình tính toán cỡ mẫu thuận tiện, cấu trúc bộ công cụ thu thập thông tin gồm 3 phần (Thông tin chung, STAI và MUIS), quy trình phát phiếu và hướng dẫn người bệnh điền phiếu vào đêm trước phẫu thuật. Chương này cũng nêu rõ các thuật toán thống kê trên phần mềm SPSS 22.0 và các nguyên tắc đạo đức y sinh học bảo vệ quyền lợi người bệnh.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu trên 123 người bệnh ghi nhận các số liệu định lượng cụ thể:
- Đặc điểm chung: Tuổi trung bình của đối tượng là 43.3 tuổi (nhóm $>35$ tuổi chiếm 74.8%; từ 18-35 tuổi chiếm 25.2%). Nữ giới chiếm 56.1%, nam giới chiếm 43.9%. Dân tộc Kinh chiếm 98.4%, không theo tôn giáo chiếm 98.4%. Cư dân nông thôn chiếm 67.5%, thành thị chiếm 32.5%. Tỷ lệ đã kết hôn đạt 86.2%. Trình độ học vấn: THCS chiếm 35.0%, THPT chiếm 26.8%, Cao đẳng/Đại học/Sau đại học chiếm 34.1%, Tiểu học chiếm 4.1%. Nghề nghiệp tự do chiếm 37.4%, làm việc cho tư nhân chiếm 26.8%, công chức nhà nước chiếm 16.3%. Thu nhập trung bình đạt 13.20 triệu đồng/tháng.
- Vị trí phẫu thuật dự kiến: Phẫu thuật vùng họng/thanh quản chiếm tỷ lệ cao nhất với 46.3% (57 ca), tiếp theo là tuyến giáp 22.8% (28 ca), vùng mũi 17.1% (21 ca) và tai 13.8% (17 ca). Tỷ lệ người bệnh được nhân viên y tế hoặc bác sĩ giải thích về tình trạng bệnh đạt 98.4% (chỉ có 1.6% không được giải thích do vắng mặt tại giường bệnh khi nhân viên y tế đi tư vấn).
- Mức độ lo lắng: Điểm trung bình Trạng thái lo lắng là 37.0 điểm (dao động từ 21 đến 65 điểm). Tỷ lệ người bệnh có biểu hiện lo lắng về Trạng thái là 45.0% (trong đó 54.55% ở mức vừa phải và 45.45% ở mức nhiều). Điểm trung bình Đặc điểm lo lắng là 34.0 điểm (dao động từ 21 đến 56 điểm); tỷ lệ có lo lắng về Đặc điểm là 33.0% (trong đó 73.17% ở mức vừa phải và 26.83% ở mức nhiều).
- Mức độ không chắc chắn về bệnh (MUIS): Điểm trung bình đạt 76.61 điểm (mức độ vừa phải), dao động từ 55 đến 101 điểm. Phân loại theo mức độ: không chắc chắn vừa phải chiếm tỷ lệ chủ đạo 71.5%, mức độ thấp chiếm 13.0% và mức độ cao chiếm 15.5%. 100% người bệnh đồng ý rằng nhân viên y tế sử dụng ngôn ngữ thường ngày dễ hiểu; 98.4% nhận định thông tin bác sĩ cung cấp có ý nghĩa và tin tưởng điều dưỡng sẵn sàng có mặt khi cần.
| Yếu tố khảo sát |
Trạng thái lo lắng (Có lo lắng, %) |
OR (95% CI); giá trị $p$ |
Đặc điểm lo lắng (Có lo lắng, %) |
OR (95% CI); giá trị $p$ |
Giới tính - Nữ ($n=70$) - Nam ($n=53$) |
54.3% 32.1% |
$\text{OR} = 2.5$; $p < 0.05$ |
35.7% 30.2% |
Chưa thấy ý nghĩa ($p > 0.05$) |
Nơi sống - Nông thôn ($n=83$) - Thành thị ($n=40$) |
47.0% 40.0% |
Chưa thấy ý nghĩa ($p > 0.05$) |
41.0% 17.5% |
$\text{OR} = 3.0$; $p < 0.05$ |
Học vấn - $\le$ THPT ($n=81$) - $>$ THPT ($n=42$) |
44.4% 45.2% |
$\text{OR} = 1.04$ (0.63 - 3.01); $p > 0.05$ |
30.9% 38.1% |
Chưa thấy ý nghĩa ($p > 0.05$) |
Phân tích tương quan tuyến tính Pearson cho thấy Mức độ không chắc chắn về bệnh (MUIS) có mối tương quan thuận, có ý nghĩa thống kê với cả Trạng thái lo lắng ($r = 0.410; p < 0.01$) và Đặc điểm lo lắng ($r = 0.385; p < 0.01$).
Chương 4: Bàn luận
Tác giả so sánh các phát hiện với y văn hiện hành. Tỷ lệ lo âu Trạng thái (45%) cao hơn nghiên cứu của Aldehaim và cộng sự năm 2019 (40%), được lý giải do tính chất can thiệp chuyên khoa vùng đầu mặt cổ ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thở, phát âm, nuốt và thẩm mỹ. Tỷ lệ được giải thích trước phẫu thuật (98.4%) cao hơn nghiên cứu của Bùi Thị Thu (91.25%) và Kim Bảo Giang (93.9%). Điểm trung bình MUIS (76.61) tương đồng với nghiên cứu của Wu và cộng sự năm 2020 (78.3) và Xia và cộng sự năm 2022 (79.1).
Chương này phân tích sâu mối liên hệ nhân khẩu học: nữ giới có nguy cơ lo lắng trạng thái gấp 2.5 lần nam giới do tính nhạy cảm cảm xúc và biến động tâm lý trước phẫu thuật; người bệnh vùng nông thôn có nguy cơ lo lắng đặc điểm gấp 3 lần thành thị do hạn chế tiếp cận thông tin y tế chuyên sâu và tâm lý e ngại môi trường bệnh viện tuyến trung ương. Mối tương quan thuận giữa điểm MUIS và STAI ($p < 0.01$) khẳng định luận điểm: sự thiếu hụt thông tin và cảm giác mơ hồ về diễn tiến điều trị là căn nguyên trực tiếp làm gia tăng lo âu tiền phẫu.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định tỷ lệ lo lắng tiền phẫu tại Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai: 45.0% người bệnh có lo âu về Trạng thái (điểm trung bình $37.0 \pm \text{SD}$) và 33.0% có lo âu về Đặc điểm (điểm trung bình $34.0 \pm \text{SD}$).
- Nhận thức về bệnh qua thang đo không chắc chắn MUIS đạt mức trung bình 76.61 điểm (71.5% ở mức vừa phải).
- Phát hiện 2 yếu tố nhân khẩu học có liên quan có ý nghĩa thống kê với lo âu: giới tính nữ làm tăng nguy cơ lo âu trạng thái ($\text{OR} = 2.5$) và sinh sống tại nông thôn làm tăng nguy cơ lo âu đặc điểm ($\text{OR} = 3.0$).
- Chứng minh mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa mức độ không chắc chắn về bệnh và mức độ lo lắng trước phẫu thuật ($r = 0.410$ với trạng thái lo âu và $r = 0.385$ với đặc điểm lo âu, $p < 0.01$).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tăng cường hoạt động tư vấn, giáo dục sức khỏe và giải thích chuyên sâu của điều dưỡng trước phẫu thuật, đặc biệt là nhóm phẫu thuật họng/thanh quản và tuyến giáp.
- Phân nhóm chăm sóc tâm lý cá thể hóa: ưu tiên hỗ trợ thông tin, động viên tinh thần đối với người bệnh nữ giới và người bệnh đến từ khu vực nông thôn.
- Chuẩn hóa tài liệu hướng dẫn tiền phẫu bằng ngôn ngữ đại chúng, giúp người bệnh hiểu rõ kế hoạch phẫu thuật, kiểm soát đau sau mổ và các bước tự chăm sóc nhằm hạ thấp điểm không chắc chắn MUIS.
Đóng góp thực tiễn
Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng về thực trạng tâm lý và mức độ hiểu biết của người bệnh chuyên khoa Tai Mũi Họng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội; khẳng định vai trò độc lập của công tác điều dưỡng trong việc giảm tải căng thẳng tiền phẫu thông qua giao tiếp hiệu quả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với quy mô $N = 123$ tại một trung tâm chuyên khoa duy nhất, chưa mang tính đại diện cho toàn bộ các chuyên khoa ngoại khác. Thiết kế nghiên cứu dừng lại ở mô tả cắt ngang tại một thời điểm (đêm trước mổ), chưa theo dõi dọc sự biến đổi lo âu và mức độ đau, thời gian phục hồi sau mổ (như mốc 2 tuần, 6 tuần hậu phẫu).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu can thiệp điều dưỡng (đánh giá hiệu quả của các chương trình tư vấn/video hướng dẫn tiền phẫu trong việc giảm lo âu); triển khai thiết kế nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc đánh giá tác động của lo âu tiền phẫu đến các biến chứng hậu phẫu và sự hồi phục chức năng tai mũi họng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu học thuật giá trị cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Điều dưỡng và Y đa khoa tham khảo phương pháp luận thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trong chăm sóc người bệnh ngoại khoa.
- Các nhà nghiên cứu tâm lý học y học và điều dưỡng lâm sàng cần tham khảo quy trình ứng dụng thang đo chuẩn hóa STAI (State-Trait Anxiety Inventory) và MUIS (Mishel Uncertainty in Illness Scale) phiên bản tiếng Việt.
- Điều dưỡng viên lâm sàng tại các khoa Ngoại Tai Mũi Họng trong việc xây dựng quy trình chuẩn bị tâm lý và nội dung tư vấn tiền phẫu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng các thang đo nào để lượng hóa mức độ lo lắng và nhận thức của người bệnh?
Tác giả sử dụng thang đo STAI (State-Trait Anxiety Inventory, bản dịch của Trần Văn Lợi) gồm 40 câu hỏi để đo lường Trạng thái và Đặc điểm lo lắng; đồng thời sử dụng thang đo MUIS (Mishel Uncertainty in Illness Scale, Mishel 1983) gồm 28 câu hỏi để đo lường mức độ không chắc chắn/nhận thức về bệnh tật.
2. Tỷ lệ người bệnh có biểu hiện lo lắng trước phẫu thuật tai mũi họng trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Tỷ lệ người bệnh có lo lắng về Trạng thái là 45.0% (điểm trung bình 37.0), trong đó 54.55% lo lắng vừa phải và 45.45% lo lắng nhiều. Tỷ lệ người bệnh có lo lắng về Đặc điểm là 33.0% (điểm trung bình 34.0), trong đó 73.17% lo lắng vừa phải và 26.83% lo lắng nhiều.
3. Những yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ lo âu của người bệnh?
Nghiên cứu ghi nhận 2 mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$): giới tính nữ có tỷ lệ lo lắng về Trạng thái cao gấp 2.5 lần nam giới ($\text{OR} = 2.5$); người bệnh cư trú tại nông thôn có tỷ lệ lo lắng về Đặc điểm cao gấp 3.0 lần người bệnh tại thành thị ($\text{OR} = 3.0$). Các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và thu nhập chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa.
4. Mối liên hệ giữa nhận thức không chắc chắn về bệnh (MUIS) và mức độ lo lắng (STAI) được xác định như thế nào?
Phân tích thống kê cho thấy mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa điểm MUIS và điểm STAI: tương quan với Trạng thái lo lắng đạt $r = 0.410$ ($p < 0.01$) và tương quan với Đặc điểm lo lắng đạt $r = 0.385$ ($p < 0.01$). Người bệnh có mức độ không chắc chắn về tình trạng bệnh càng cao thì mức độ lo lắng tiền phẫu càng lớn.
5. Vị trí phẫu thuật nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong mẫu nghiên cứu?
Trong 123 người bệnh tham gia nghiên cứu, phẫu thuật vùng họng/thanh quản chiếm tỷ lệ cao nhất với 46.3% (57 ca), tiếp đến là tuyến giáp chiếm 22.8% (28 ca), phẫu thuật mũi chiếm 17.1% (21 ca) và phẫu thuật tai chiếm 13.8% (17 ca).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Quang Minh Quân đã mô tả chi tiết thực trạng tâm lý và mức độ nhận thức tiền phẫu của 123 người bệnh tại Trung tâm Tai Mũi Họng và Phẫu thuật cấy ốc tai Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả khẳng định tỷ lệ lo âu trạng thái chiếm 45.0% và mức độ không chắc chắn về bệnh chủ yếu ở mức vừa phải (71.5%), đồng thời chỉ ra nhóm đối tượng nữ giới và cư dân nông thôn có nguy cơ lo âu cao hơn rõ rệt. Nghiên cứu xác lập bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan thuận giữa mức độ thiếu hụt thông tin bệnh lý với mức độ lo âu tiền phẫu, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tư vấn, chăm sóc toàn diện của đội ngũ điều dưỡng ngoại khoa.