Liên quan giữa mô hình frax không có mật độ xương trong dự đoán nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi

Tài liệu nghiên cứu Liên quan giữa mô hình frax không có mật độ xương trong dự đoán nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Nội Khoa (Lão Khoa)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2021

117
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1. GIỚI THIỆU VỀ XƢƠNG

3.1.1. Cấu trúc và chức năng của xƢơng

3.1.2. Chu chuyển xƢơng

3.2. LOÃNG XƢƠNG

3.2.1. Khái niệm loãng xƢơng

3.2.2. Phân loại loãng xƢơng

3.2.3. Các yếu tố nguy cơ của loãng xƢơng

3.2.4. Chẩn đoán loãng xƢơng

3.2.4.1. Các biểu hiện lâm sàng của loãng xƢơng
3.2.4.2. Các phƣơng pháp cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán
3.2.4.3. Sử dụng các marker chu chuyển xƢơng
3.2.4.4. Các phƣơng pháp đo mật độ xƢơng
3.2.4.4.1. Đo mật độ xƢơng bằng DXA

4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Thiết kế nghiên cứu

4.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

4.3. Đối tƣợng nghiên cứu

4.4. Phƣơng pháp chọn mẫu

4.5. Thu thập số liệu

4.6. Định nghĩa các biến số

4.7. Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu

4.8. Y đức trong nghiên cứu

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Đặc điểm dân số nghiên cứu

5.2. Tỷ lệ loãng xƢơng và nguy cơ gãy xƢơng ở ngƣời cao tuổi dự đoán theo mô hình FRAX không có mật độ xƢơng và FRAX có mật độ xƢơng tại khoa Nội cơ xƢơng khớp bệnh viện Thống Nhất

5.3. Sự tƣơng hợp giữa mô hình FRAX không có mật độ xƢơng và FRAX có mật độ xƢơng trong dự đoán nguy cơ gãy xƢơng ở ngƣời cao tuổi và ở phân nhóm theo tuổi, giới, BMI và các yếu tố nguy cơ gãy xƢơng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình FRAX Trong Dự Đoán Nguy Cơ Gãy Xương

Mô hình FRAX (Fracture Risk Assessment Tool) là một công cụ quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi. Mô hình này sử dụng nhiều yếu tố như tuổi, giới, mật độ xương và các yếu tố nguy cơ khác để dự đoán khả năng gãy xương trong 10 năm tới. Việc áp dụng mô hình FRAX giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn, từ đó giảm thiểu nguy cơ gãy xương và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

1.1. Mô Hình FRAX Có Mật Độ Xương Cách Thức Hoạt Động

Mô hình FRAX có mật độ xương sử dụng dữ liệu từ kỹ thuật DXA để đo mật độ xương. Dữ liệu này kết hợp với các yếu tố như tuổi tác, giới tính và tiền sử bệnh lý để tính toán nguy cơ gãy xương. Kết quả từ mô hình này thường có độ chính xác cao hơn trong việc dự đoán nguy cơ gãy xương.

1.2. Mô Hình FRAX Không Có Mật Độ Xương Lợi Ích và Hạn Chế

Mô hình FRAX không có mật độ xương cho phép đánh giá nguy cơ gãy xương mà không cần thực hiện đo mật độ xương. Điều này rất hữu ích trong các cơ sở y tế không có thiết bị DXA. Tuy nhiên, độ chính xác của mô hình này có thể thấp hơn so với mô hình có mật độ xương.

II. Vấn Đề Trong Dự Đoán Nguy Cơ Gãy Xương Ở Người Cao Tuổi

Nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là trong bối cảnh dân số già hóa. Việc chẩn đoán và dự đoán nguy cơ gãy xương gặp nhiều thách thức, bao gồm sự thiếu hụt trong việc tiếp cận các phương pháp đo mật độ xương. Điều này dẫn đến việc nhiều người cao tuổi không được chẩn đoán kịp thời, làm tăng nguy cơ gãy xương và các biến chứng liên quan.

2.1. Thách Thức Trong Việc Tiếp Cận Dịch Vụ Y Tế

Nhiều cơ sở y tế không có khả năng thực hiện đo mật độ xương do thiếu thiết bị hoặc chi phí cao. Điều này làm giảm khả năng phát hiện sớm loãng xương và nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi.

2.2. Tác Động Của Các Yếu Tố Nguy Cơ

Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, và tiền sử gia đình có thể làm tăng nguy cơ gãy xương. Việc không nhận diện được những yếu tố này có thể dẫn đến sự thiếu sót trong việc điều trị và dự phòng.

III. Phương Pháp So Sánh Mô Hình FRAX Có và Không Có Mật Độ Xương

Nghiên cứu so sánh mô hình FRAX có và không có mật độ xương là cần thiết để xác định độ chính xác và tính khả thi của từng mô hình trong thực tiễn lâm sàng. Việc này giúp các bác sĩ lựa chọn phương pháp phù hợp nhất cho từng bệnh nhân, đặc biệt là trong các cơ sở y tế không có thiết bị đo mật độ xương.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu So Sánh

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm người cao tuổi, sử dụng cả hai mô hình FRAX để đánh giá nguy cơ gãy xương. Kết quả sẽ được phân tích để xác định sự tương đồng và khác biệt giữa hai mô hình.

3.2. Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra mức độ chính xác của từng mô hình trong việc dự đoán nguy cơ gãy xương. Điều này sẽ giúp xác định mô hình nào có thể được áp dụng rộng rãi hơn trong thực tiễn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Mô Hình FRAX Trong Dự Đoán Nguy Cơ Gãy Xương

Mô hình FRAX đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều quốc gia để dự đoán nguy cơ gãy xương. Việc sử dụng mô hình này không chỉ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi mà còn giảm thiểu chi phí điều trị do gãy xương. Các bác sĩ có thể dựa vào kết quả từ mô hình để đưa ra quyết định điều trị kịp thời và hiệu quả.

4.1. Kinh Nghiệm Ứng Dụng Mô Hình FRAX

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình FRAX giúp giảm tỷ lệ gãy xương ở người cao tuổi. Các bác sĩ có thể sử dụng kết quả từ mô hình để tư vấn cho bệnh nhân về chế độ dinh dưỡng và lối sống.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Việt Nam

Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy mô hình FRAX có thể được áp dụng hiệu quả trong việc dự đoán nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi. Điều này mở ra cơ hội cho việc cải thiện chăm sóc sức khỏe cho nhóm đối tượng này.

V. Kết Luận Về Mô Hình FRAX Trong Dự Đoán Nguy Cơ Gãy Xương

Mô hình FRAX, cả có và không có mật độ xương, đều có giá trị trong việc dự đoán nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi. Việc lựa chọn mô hình phù hợp sẽ phụ thuộc vào điều kiện thực tế của từng cơ sở y tế. Nghiên cứu thêm về mối quan hệ giữa hai mô hình này sẽ giúp cải thiện khả năng dự đoán và điều trị cho người cao tuổi.

5.1. Tương Lai Của Mô Hình FRAX

Mô hình FRAX có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa mô hình này để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Cơ Sở Y Tế

Các cơ sở y tế nên xem xét áp dụng mô hình FRAX trong quy trình chẩn đoán và điều trị loãng xương. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi và giảm thiểu nguy cơ gãy xương.

09/07/2025
Liên quan giữa mô hình frax không có mật độ xương trong dự đoán nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Loãng xƣơng là bệnh lý rất thƣờng gặp ở ngƣời cao tuổi. Loãng xƣơng dẫn đến gãy xƣơng, làm tăng chi phí điều trị, phục hồi chức năng, giảm chất lƣợng cuộc sống, gia tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong nói chung ở ngƣời cao tuổi [67]. Tỷ lệ mắc loãng xƣơng tăng dần theo tuổi, khiến cho việc chẩn đoán, ra quyết định điều trị loãng xƣơng cũng nhƣ dự phòng và điều trị biến chứng gãy xƣơng đã trở thành vấn đề quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn cầu [58]. Hiện nay để chẩn đoán loãng xƣơng, đo mật độ xƣơng (MĐX) thực hiện bằng kỹ thuật hấp phụ tia X năng lƣợng kép – DXA (dual-energy X- ray absorptiometry) đƣợc chấp nhận rộng rãi.

Tuy nhiên, việc sử dụng MĐX đơn độc để đánh giá nguy cơ gãy xƣơng có độ đặc hiệu cao và độ nhạy thấp. Độ nhạy thấp đồng nghĩa với việc xƣơng có thể gãy ở những ngƣời chƣa đƣợc chẩn đoán loãng xƣơng [66]. Vì thế xu hƣớng hiện nay trên thế giới đó là không sử dụng mật độ xƣơng đơn độc để chẩn đoán và quyết định điều trị loãng xƣơng [41]. Theo khuyến cáo của Hội loãng xƣơng – NOF (National Osteoporosis Foundation) và Hội Nội tiết Hoa Kỳ, các bệnh nhân loãng xƣơng hoặc các bệnh nhân có tiền sử gãy xƣơng hoặc thiếu xƣơng nhƣng có giá trị dự đoán gãy xƣơng chính ≥ 20% hoặc giá trị dự đoán gãy cổ xƣơng đùi ≥ 3% đƣợc chỉ định điều trị [46], [16].

Tổ chức y tế thế giới WHO (World Health Organization) đã chấp nhận sử dụng mô hình dự đoán nguy cơ gãy xƣơng FRAX (Fracture Risk Assessment Tool) gồm có các yếu tố tiên lƣợng nhƣ tuổi, giới, MĐX, chỉ số khối cơ thể BMI (body mass index) và những yếu tố nguy cơ khác dễ thu thập, để tiên lƣợng nguy cơ gãy xƣơng chính 10 năm do loãng xƣơng – MOFP (10-year major osteoporotic fracture probability) và nguy cơ gãy cổ. 2 xƣơng đùi 10 năm do loãng xƣơng – HOFP (10-year hip osteoporotic fracture probability) [57], [56]. Công cụ FRAX đã thành công ở nhiều nƣớc trên thế giới, nhƣng cũng có sự khác biệt dịch tễ ở từng quốc gia, do đó cần đƣợc nghiên cứu thêm. Thêm vào đó, việc thực hiện đo MĐX bằng DXA có giá thành cao và không sẵn có tại những cơ sở chăm sóc y tế ban đầu nhƣ trạm y tế, trung tâm y tế, những bệnh viện tuyến quận huyện, và nhiều cơ sở y tế tƣ nhân khác.

Thực tế này đã đặt ra việc cần thiết xây dựng những mô hình dự đoán nguy cơ gãy xƣơng sử dụng phối hợp các yếu tố nguy cơ khác mà không cần có MĐX, để những cơ sở y tế nói trên vẫn có thể áp dụng và dự đoán nguy cơ gãy xƣơng cho ngƣời cao tuổi, từ đó có biện pháp xử trí thích hợp. Mô hình FRAX không có MĐX là công cụ có thể đƣợc nghĩ tới. Câu hỏi đặt ra là giá trị dự đoán gãy xƣơng của mô hình này có tƣơng đồng với mô hình FRAX có MĐX không? Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về giá trị của từng mô hình, và so sánh mối liên quan giữa các mô hình trong dự đoán gãy xƣơng, tuy nhiên ở Việt Nam, còn ít nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này. Do vậy, nghiên cứu ―Liên quan giữa mô hình FRAX không có mật độ xƣơng và mô hình FRAX có mật độ xƣơng trong dự đoán nguy cơ gãy xƣơng ở ngƣời cao tuổi‖ đƣợc thực hiện nhằm so sánh mối liên quan giữa mô hình FRAX không có MĐX với mô hình FRAX có MĐX đã đƣợc thế giới chấp nhận rộng rãi trong việc dự đoán nguy cơ gãy xƣơng và mô tả tỷ lệ gãy xƣơng dự đoán đƣợc bằng các công cụ nói trên, từ đó, hi vọng có thể kiến nghị áp dụng các mô hình nói trên vào thực hành lâm sàng, ngay cả tại cơ sở y tế không sẵn có DXA để đo MĐX.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Khảo sát tỷ lệ loãng xƣơng và nguy cơ gãy xƣơng ở ngƣời cao tuổi dự đoán đƣợc theo các mô hình FRAX không MĐX và FRAX có MĐX tại Khoa Nội Cơ Xƣơng Khớp Bệnh viện Thống Nhất. Sự tƣơng hợp giữa mô hình FRAX không có MĐX với mô hình FRAX có MĐX trong dự đoán nguy cơ gãy xƣơng ở ngƣời cao tuổi và ở phân nhóm theo tuổi, giới, BMI và các yếu tố nguy cơ gãy xƣơng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

GIỚI THIỆU VỀ XƢƠNG 1. Cấu trúc và chức năng của xƣơng Xƣơng là những mô sống của cơ thể. Xƣơng có hệ mạch máu và tế bào riêng, giúp chúng tăng trƣởng và sửa chữa. Protein, khoáng chất, và vitamin góp phần tạo nên bộ xƣơng.

Con ngƣời sinh ra với khoảng 300 xƣơng mềm. Trong suốt quá trình trƣởng thành, sụn phát triển và từ từ đƣợc thay thế bởi xƣơng cứng. Một số xƣơng sau đó thoái triển, để hoàn thiện bộ xƣơng ngƣời lớn gồm 206 xƣơng [42].  Cấu trúc của xƣơng:  Về hình thái, xƣơng bao gồm hai loại mô:  Lớp áo ngoài cứng, gọi và vỏ xƣơng, chiếm 80% toàn bộ khung xƣơng.

 Lớp trong xốp, gọi là bè xƣơng (xƣơng xốp) có cấu trúc mạng lƣới ba chiều, giúp xƣơng phát huy chức năng cơ học tối đa. Xƣơng xốp hoạt động trao đổi chất nhiều hơn và diện tích bề mặt lớn hơn vỏ xƣơng, nên dễ bị mất xƣơng và gãy xƣơng hơn.  Về mô học, xƣơng bao gồm các loại tế bào:  Tế bào tạo xƣơng (gồm tế bào xƣơng và tế bào sinh xƣơng – osteocytes và osteoblasts)  Tế bào hủy xƣơng (osteoclasts)  Chất nền  Hệ thống mạch máu xƣơng  Về cấu trúc hóa học của xƣơng:  Protein chiếm 1/3, trong đó 90% là các collagen, cấu trúc mạng lƣới bắt chéo giúp xƣơng có sức chịu lực. 5  Chất khoáng chiếm 2/3 là những tinh thể, cấu trúc dạng đĩa gắn vào mạng lƣới collagen, thành phần chính là Calcium, Phosphorus, Magnesium…  Chức năng của xƣơng  Chức năng nâng đỡ cơ thể (chức năng tạo dáng)  Chức năng bảo vệ các cơ quan của cơ thể (não, tim, phổi, tủy sống, các cơ quan trong ổ bụng…)  Chức năng vận động  Chức năng nội tiết, đóng vai trò quan trọng, cung cấp một kho hằng định nội môi chứa chất khoáng, chủ yếu là Calcium, ngoài ra còn có các chất khác nhƣ Magnesium, Phosphorus.

 Xƣơng còn chứa các cytokine và yếu tố tăng trƣởng, yếu tố chuyển dạng tăng trƣởng (TGF – transforming growth factor), các yếu tố này có thể đƣợc đào thải khi xƣơng bị hủy và qua đó ảnh hƣởng tới toàn bộ cơ thể. Chu chuyển xƣơng  Chu chuyển xƣơng là một chu trình xảy ra liên tục, bao gồm 2 quá trình hủy xƣơng và tái tạo xƣơng giúp xƣơng luôn đổi mới. Chu chuyển bao gồm các giai đoạn:  Nghỉ ngơi – hủy xƣơng (các tế bào hủy xƣơng đƣợc hoạt hóa)  Hoàn tất huỷ xƣơng (tạo thành những hốc mất xƣơng)  Tạo xƣơng (các tế bào tạo xƣơng đƣợc hoạt hóa)  Hoàn tất tạo xƣơng (Tạo xƣơng mới, lấp đầy các hốc xƣơng bị hủy, khoáng hóa mô xƣơng)  Chu chuyển xƣơng đƣợc một hệ thống sinh học kiểm soát: các tế bào xƣơng, các hormones (PTH, vitamine D, các steroids.), các cytokine và các yếu tố tăng trƣởng. 6  Tại bất cứ mọi thời điểm, cơ thể có 5% diện tích vỏ xƣơng và 20% diện tích bè xƣơng đang ở trong quá trình hoạt động của chu chuyển xƣơng  Sự tạo xƣơng – quá trình xây dựng (modeling): hoàn chỉnh khối xƣơng (xảy ra ở trẻ em)  Quá trình tạo xƣơng mạnh hơn quá trình huỷ xƣơng  Ở vị trí gần đầu xƣơng  Làm xƣơng thay đổi kích thƣớc và tăng trƣởng  Quá trình tái tạo (remodeling): tốc độ 2 – 10% xƣơng hàng năm, xảy ra ở ngƣời lớn, để sửa chữa các tổn thƣơng & tái tạo xƣơng  Quá trình tạo xƣơng bằng hoặc ít hơn quá trình huỷ xƣơng, ở vị trí xƣơng bị huỷ để lấp đầy các hốc xƣơng bị huỷ.

 Tái tạo xƣơng có hai chức năng chính: o Sửa chữa tổn thƣơng vi mô và duy trì sức mạnh của bộ xƣơng. o Cung cấp calci để duy trì nồng độ calci huyết thanh.  Xƣơng đƣợc sửa chữa nhƣng không thay đổi kích thƣớc và không tăng trƣởng [10]. LOÃNG XƢƠNG 1.

Khái niệm loãng xƣơng Loãng xƣơng là một bệnh phổ biến trong cộng đồng ngày nay. Tuy nhiên bệnh loãng xƣơng mới đƣợc biết tới từ khoảng cuối thế kỉ XIX. Thuật ngữ loãng xƣơng (osteoporosis) lần đầu tiên đƣợc đƣa ra bởi tác giả Jean Georges Chretien Frederic Martin Lobstein, một bác sĩ giải phẫu bệnh. Ông nhận thấy xƣơng một số ngƣời có nhiều ―lỗ‖ to hơn những ngƣời khác, nên ông gọi hiện tƣợng đó là ―osteoporosis‖ nghĩa ra xƣơng có nhiều lỗ.

Năm 1940, Albright lần đầu đƣa ra giải thích cơ chế loãng xƣơng sau mãn kinh. Từ đó, hiểu biết về loãng xƣơng đƣợc tích lũy và cập nhật theo thời gian qua tìm hiểu và nghiên cứu [62]. 7 WHO/IOF đƣa ra định nghĩa về loãng xƣơng nhƣ sau: ―loãng xƣơng là bệnh của hệ xƣơng, đặc trƣng bởi sự giảm khối lƣợng và chất lƣợng xƣơng dẫn đến sự suy yếu của xƣơng và tăng nguy cơ gãy xƣơng‖ [70]. NIH/NOP định nghĩa ―loãng xƣơng là một hội chứng với đặc điểm sức bền của xƣơng bị suy giảm, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xƣơng.

Sức bền của xƣơng phản ánh sự kết hợp của mật độ khoáng chất của xƣơng và chất lƣợng xƣơng.‖ Loãng xƣơng xảy ra âm thầm và tiến triển, thƣờng không có triệu chứng cho đến khi gãy xƣơng lần đầu xảy ra [46]. Phân loại loãng xƣơng 1. Loãng xƣơng nguyên phát Là loại loãng xƣơng không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi và/hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ.  Loãng xƣơng nguyên phát típ 1 (loãng xƣơng sau mãn kinh) thƣờng gặp ở phụ nữ 50-60 tuổi đã mãn kinh.

Tổn thƣơng chủ yếu là mất chất khoáng ở xƣơng xốp, biểu hiện bằng sự lún các đốt sống hoặc gãy xƣơng Pouteau-Colles. Loãng xƣơng nhóm này thƣờng xuất hiện sau mãn kinh từ 5-15 năm. Nguyên nhân ngoài sự thiếu hụt estrogen, còn có sự giảm tiết hormon cận giáp, tăng thải calci qua nƣớc tiểu, suy giảm hoạt động enzym 25-OH-Vitamin D1 alpha hydroxylase.  Loãng xƣơng nguyên phát típ 2 (loãng xƣơng tuổi già): loãng xƣơng liên quan đến tuổi tác và có sự mất cân bằng tạo xƣơng.

Loại này xuất hiện cả ở nam và nữ, thƣờng trên 70 tuổi, mất chất khoáng toàn thể cả xƣơng xốp và xƣơng đặc. Biểu hiện chủ yếu là gãy cổ xƣơng đùi, liên quan tới hai yếu tố quan trọng là giảm hấp thu calci, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cƣờng cận giáp thứ phát [73]. Loãng xƣơng thứ phát .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ