Luận án tiến sĩ về mô hình tham số trong ước lượng hiệu quả và năng suất của doanh nghiệp Việt Nam

Tài liệu chuyên sâu Mô hình tham số trong ước lượng hiệu quả và năng suất doanh nghiệp Việt Nam, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững

Chuyên ngành

Toán Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

154
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.Những vấn đề căn bản về năng suất và hiệu quả

1.1. Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả quy mô

1.2. Cải thiện hiệu quả kĩ thuật (TEC), tiến bộ công nghệ (TC) và tăng trưởng TFP

1.3. Tổng quan nghiên cứu về ước lượng hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp

1.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

1.3.2. Các nghiên cứu trong nước

1.4. Tổng quan các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp

1.5. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các mô hình lý thuyết

2.1.1. Mô hình SFA

2.1.2. Mô hình Meta Frontier

2.1.3. Mô hình SVFA

2.2. Dữ liệu sử dụng

2.2.1. Nguồn dữ liệu

2.2.2. Quy trình xử lý dữ liệu

2.2.3. Biến số trong các mô hình

2.3. Khung nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

3.1. Thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012-2016

3.1.1. Thực trạng phát triển theo khu vực doanh nghiệp

3.1.2. Thực trạng phát triển theo nhóm ngành kinh tế

3.1.3. Thực trạng phát triển theo quy mô doanh nghiệp

3.2. Năng suất và hiệu quả hoạt động của các các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012-2016

3.2.1. Năng suất lao động của các doanh nghiệp

3.2.2. Hiệu suất vốn của các doanh nghiệp

3.3. Thực trạng ngành Dệt may-Da giày Việt Nam

3.3.1. Thực trạng phát triển của ngành Dệt may-Da giày giai đoạn 2012-2016

3.3.2. Năng suất và hiệu quả hoạt động của ngành Dệt may-Da giày giai đoạn 2012-2016

3.4. Thống kê mô tả của các biến trong các mô hình

3.5. Thống kê mô tả của các biến trong các khu vực doanh nghiệp Việt Nam

3.6. Thống kê mô tả của các biến trong nghành Dệt may-Da giày

4. CHƯƠNG 4: ƯỚC LƯỢNG HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP BẰNG CÁC MÔ HÌNH THAM SỐ

4.1. Kết quả ước lượng cho các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012-2016

4.1.1. Kết quả ước lượng bằng mô hình SFA

4.1.2. Kết quả ước lượng bằng mô hình meta-frontier

4.1.3. Kết quả ước lượng bằng mô hình SVFA

4.2. Kết quả ước lượng cho ngành Dệt may-Da giày

4.2.1. Kết quả ước lượng bằng meta-frontier SFA cho ngành Dệt may-Da giày108

4.2.2. Kết quả ước lượng bằng mô hình SVFA cho ngành Dệt may-Da giày

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Mô hình tham số trong ước lượng hiệu quả

Mô hình tham số đóng vai trò quan trọng trong việc ước lượng hiệu quả và năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam. Các mô hình này giúp xác định mức độ hiệu quả kỹ thuật (TE) và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của doanh nghiệp. Việc áp dụng các mô hình như SFA (Stochastic Frontier Analysis) và meta-frontier cho phép phân tích sâu sắc hơn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo Battese và Coelli (1992), mô hình SFA cung cấp một cách tiếp cận mạnh mẽ để đo lường hiệu quả kỹ thuật, trong khi mô hình meta-frontier cho phép so sánh hiệu quả giữa các nhóm doanh nghiệp khác nhau. Điều này rất cần thiết trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.

1.1. Các mô hình lý thuyết

Các mô hình lý thuyết về ước lượng hiệu quả bao gồm mô hình SFA, mô hình meta-frontier và mô hình SVFA (Stochastic Varying Frontier Analysis). Mô hình SFA được sử dụng rộng rãi để ước lượng hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp, trong khi mô hình meta-frontier cho phép đánh giá hiệu quả giữa các nhóm doanh nghiệp có công nghệ khác nhau. Mô hình SVFA, được phát triển bởi Kalirajan và Obwona, cung cấp một cái nhìn linh hoạt hơn về hiệu quả khi xem xét sự biến đổi của công nghệ theo thời gian. Việc áp dụng các mô hình này giúp các nhà nghiên cứu và quản lý có cái nhìn tổng quan về hiệu quả và năng suất của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện phù hợp.

II. Đánh giá năng suất doanh nghiệp Việt Nam

Năng suất doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2012-2016 cho thấy sự phát triển không đồng đều giữa các ngành và quy mô doanh nghiệp. Theo thống kê, năng suất lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn. Điều này phản ánh sự khác biệt trong khả năng tiếp cận công nghệ và nguồn lực. Việc đánh giá năng suất không chỉ dựa vào các chỉ số tài chính mà còn cần xem xét các yếu tố như hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ. Các nghiên cứu cho thấy rằng, để nâng cao năng suất, doanh nghiệp cần cải thiện quy trình sản xuất và áp dụng công nghệ mới. Điều này không chỉ giúp tăng cường hiệu quả kinh doanh mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

2.1. Thực trạng năng suất

Thực trạng năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy nhiều thách thức trong việc cải thiện hiệu quả. Năng suất lao động trong ngành Dệt may-Da giày, một trong những ngành chủ lực của Việt Nam, đã có sự cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực. Các yếu tố như công nghệ lạc hậu, quản lý kém và thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao đã ảnh hưởng đến năng suất. Để cải thiện tình hình này, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực. Việc nâng cao năng suất không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

III. Phân tích hiệu quả kinh doanh

Phân tích hiệu quả kinh doanh là một phần quan trọng trong việc đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh không chỉ được đo bằng lợi nhuận mà còn phải xem xét đến các yếu tố như hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng cạnh tranh. Các chỉ số như ROA (Return on Assets) và ROE (Return on Equity) thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện hơn, cần kết hợp với các chỉ số về hiệu quả kỹ thuật và năng suất. Việc phân tích này giúp các nhà quản lý nhận diện được điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định chiến lược phù hợp.

3.1. Các chỉ số hiệu quả

Các chỉ số hiệu quả như ROA và ROE cung cấp thông tin quan trọng về khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn, cần xem xét các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh doanh và chính sách của nhà nước. Việc áp dụng các mô hình tham số trong phân tích hiệu quả giúp xác định rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Các nghiên cứu cho thấy rằng, doanh nghiệp nào có khả năng tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý tốt nguồn lực sẽ có hiệu quả cao hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải tiến quy trình và áp dụng công nghệ mới trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, luận án trình bày các khái niệm về hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp cũng như việc đo lường chúng làm cơ sở lý luận cho các mô hình ước lượng tham số. Đồng thời, luận án trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về hiệu quả kỹ thuật, năng suất nhân tố tổng hợp và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật.Những vấn đề căn bản về năng suất và hiệu quả 1. Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả quy mô Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) thì “hiệu quả-efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa lượng đầu ra thu được so với lượng đầu vào cần thiết để sản xuất ra lượng đầu ra đó, nó phản ánh mức độ thành công mà doanh nghiệp đạt được trong việc phân bổ các đầu vào được sử dụng và các đầu ra được sản xuất nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó.

Farell (1957) trong quá trình đánh giá nguồn gốc dẫn đến sự khác biệt trong năng suất nhân tố tổng hợp đã phân chia hiệu quả của doanh nghiệp thành hai thành phần là hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật là “khả năng cực tiểu hóa sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước”, nó phản ánh các doanh nghiệp cố gắng tránh lãng phí bằng việc sử dụng kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất. Còn hiệu quả kinh tế là “khả năng cho biết kết hợp các nhân tố đầu vào cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một sản lượng nhất định”. Ở đây mục tiêu của các doanh nghiệp đỏi hỏi sản xuất đầu ra với chi phí tối thiểu, hoặc sử dụng các đầu vào hiện có nhằm tối đa hóa doanh thu, hoặc phân bổ đầu vào và đầu ra để tối đa hóa lợi nhuận.

Mặc dù khái niệm hiệu quả kỹ thuật ra đời trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, nhưng không quan tâm đến đo lường nó. Điều này được giải thích bởi lý thuyết sản xuất tân cổ điển luôn giả định đạt hiệu quả kỹ thuật tối đa. Nhưng Leibenstein (1966) đã chỉ ra những vấn đề tồn tại giữa các giả định lý thuyết này và luan an 8 thực tế thực nghiệm. Điều này dẫn đến việc cần thiết trong đo lường mức hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế.

Khái niệm cơ bản làm cơ sở cho việc đo lường hiệu quả kỹ thuật bắt đầu với những mô tả của công nghệ sản xuất. Các công nghệ sản xuất có thể được biểu diễn bằng các đường đồng lượng, các hàm sản xuất, các hàm chi phí hoặc các hàm lợi nhuận. Bốn mô hình cung cấp bốn công cụ khác nhau để đo lường hiệu quả kỹ thuật. Mặc dù các phân tích dựa trên các mô hình này xuất hiện những khác biệt, nhưng chúng được tiếp cận cơ bản giống nhau.1: Khái niệm hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế Trong lý thuyết tân cổ điển, tất cả các doanh nghiệp hoạt động ở hiệu quả kỹ thuật tiềm năng tại các điểm dọc theo biên FF’ (Hình 1.

Do đó, nếu một doanh nghiệp đang hoạt động trên biên FF’ của nó, thì điểm hiệu quả kinh tế của nó có thể là B, điểm tiếp xúc với đường giá của nó. Nếu nó hoạt động ở B, với đầu vào I1 và đầu ra Q1 sẽ có lợi nhuận tối đa là π1 và đạt hiệu quả kinh tế tối đa. Cần lưu ý rằng, các doanh nghiệp được đề cập đến ở đây đang hoạt động trên các đường biên kỹ thuật của chúng nên hiệu quả phân bổ sẽ giống như hiệu quả kinh tế bởi giả định lý thuyết của hiệu quả kỹ thuật tiềm năng. Vì vậy, nếu một doanh nghiệp đang hoạt động tại điểm A trên biên của nó, sử dụng đầu vào I2 và sản xuất sản lượng Q2, lợi nhuận của nó có thể thu được là π 2 , và sự phi hiệu quả phân bổ của nó sẽ được tính π2 bằng.

π1 luan an 9 Trong thực tế, với một công nghệ mới, các doanh nghiệp sẽ hoạt động ở mức thấp hơn so với hiệu quả kỹ thuật tiềm năng do kiến thức không đầy đủ về kỹ thuật thực hành tốt nhất hoặc do các yếu tố tổ chức cản trở doanh nghiệp hoạt động trên đường biên của kỹ thuật ấy. Vì vậy, một doanh nghiệp sẽ hoạt động với một hàm sản xuất thực tế nằm dưới đường biên tiềm năng, giống như đường AA' trong hình 1. Ở đầu vào I2, nó hoạt động tại điểm C, sản xuất ra sản lượng Q3 và thu được lợi nhuận π 3. Ở trên hàm sản xuất thực tế này, điểm C là phi hiệu quả phân bổ.

Để tối đa hóa lợi nhuận của mình ( π 4 ) nó sẽ phải hoạt động tại điểm D, sử dụng đầu vào I3 và sản xuất ra sản lượng Q4. Tuy nhiên, tại D nó sẽ không đạt được hiệu quả kinh tế tiềm năng (theo định nghĩa, hiệu quả kinh tế tiềm năng chỉ có thể đạt được với hiệu quả kỹ thuật tiềm năng). Để phù hợp với lý thuyết sản xuất tân cổ điển, hiệu quả chỉ nên được đo lường ứng với hàm sản xuất biên FF'. Vì vậy, nếu một doanh nghiệp đang hoạt động tại C trên hàm sản xuất thực tế, thì phi hiệu quả kinh tế của nó sẽ π Q được đo bằng tỷ số 3 , hoặc 3.

Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy trong Hình 1.1 π1 Q1 đó là: Phi hiệu quả kinh tế bao gồm hai thành phần, phi hiệu quả kỹ thuật và phi hiệu quả phân bổ. Về lợi nhuận, tổng thiệt hại về phi hiệu quả kinh tế trong hoạt động tại điểm C là π 1 − π 3. Trong số này, sự tổn thất từ phi hiệu quả kỹ thuật là π 3 − π 2 , và tổn thất do phi hiệu quả phân bổ là π 1 − π 2. Về đầu ra, tổn thất tương ứng là Q2-Q3 và Q1-Q2.

Mô hình cơ sở này cung cấp khung lý thuyết để đo lường hiệu quả và phi hiệu quả. Các mô hình khác để đo lường được dựa trên khung khái niệm này. Các công cụ thường được sử dụng nhất trong phân tích đo lường hiệu quả kỹ thuật là hàm sản xuất nguyên thủy. Trong lý thuyết sản xuất tân cổ điển, hàm sản xuất nguyên thủy xác định sản lượng tối đa có thể có của một doanh nghiệp với sự kết hợp của các yếu tố đầu vào và công nghệ hiện có, có nghĩa nó là hàm sản xuất biên.

Bởi vì, lý thuyết tân cổ điển cho rằng các doanh nghiệp sẽ sử dụng các kỹ thuật thực hành tốt nhất với công nghệ đã chọn. Do đó, đường biên sản xuất của doanh nghiệp thứ i, sản xuất một đầu ra duy nhất với nhiều đầu vào theo những kỹ thuật thực hành tốt nhất có thể được định nghĩa như sau: Yi * = f ( xi1 , xi 2 ,.1) Ở đây Yi * và xij ( j = 1,., m ) lần lượt là biên của đầu ra và các đầu vào của doanh nghiệp thứ i, T là công nghệ chung của tất cả các doanh nghiệp trong mẫu. luan an 10 Hãy xem xét tình huống: Một doanh nghiệp i, không sản xuất sản lượng tối đa có thể của nó do một số đình trệ trong sản xuất được gây ra bởi các nhân tố khác nhau như phi giá cả và cơ cấu tổ chức kinh tế-xã hội. Hàm sản xuất của doanh nghiệp i có thể được viết trong khung lý thuyết tân cổ điển sửa đổi như sau: Yi = f ( xi1, xi 2 ,.2) Trong đó ui đại diện cho sự kết hợp các ảnh hưởng của nhiều yếu tố như phi giá cả và cơ cấu tổ chức mà nó kìm hãm doanh nghiệp đạt sản lượng tối đa có thể của nó ở mức Yi *.

Nói cách khác, exp (ui) phản ánh khả năng doanh nghiệp thứ i trong sản xuất ở mức hiện tại, hay còn gọi là hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp i. Các giá trị của u phụ thuộc vào tình hình thực tế mà doanh nghiệp phải đối mặt. Tuy nhiên, giới hạn trên có thể được thiết lập cho các giá trị của u. Khi không có các khó khăn kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến doanh nghiệp, u có giá trị 0.

Khi doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn, u nhận trị nhỏ hơn không. Giá trị thực tế của u phụ thuộc vào mức độ mà các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi các sự kìm hãm. Một thước đo về hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp i có thể được định nghĩa như sau: exp(ui)=Yi /Yi* = Sản lượng thực tế/Sản lượng tối đa có thể sản xuất (1.3) CR FF q VRS q1 C PP q2 B q3 A 0 x Hình 1.2: Khái niệm hiệu quả quy mô Hình 1.2 biểu diễn khái niệm hiệu quả theo quy mô. PP là đường biên sản xuất có hiệu suất thay đổi theo quy mô, FF là đường biên có công nghệ với hiệu suất không đổi.

Hiệu quả quy mô có thể được đo lường bởi tỉ số giữa hai công nghệ luan an 11 này. Nó chính là q2/q1, phản ánh sự tăng lên của mức sản lượng từ đơn vị có hiệu suất thay đổi theo quy mô đến đơn vị có quy mô tối ưu, tại cùng một mức đầu vào. Theo những khái niệm trên, TE tương ứng với hiệu suất thay đổi theo quy mô là hiệu quả kỹ thuật thuần túy. TE tương ứng với hiệu suất không đổi theo quy mô là tổng hiệu quả kỹ thuật.

Mối quan hệ giữa chúng có thể được xác định bởi phương trình: TE = SE x PE Trong đó, TE là hiệu quả kỹ thuật tương ứng với hiệu suất không đổi theo quy mô. PE là hiệu quả kỹ thuật thuần túy tương ứng với trường hợp hiệu suất thay đổi theo quy mô và SE là hiệu quả quy mô (phản ánh sự tăng lên của sản lượng từ hàm sản xuất thay đổi theo quy mô so với trường hợp không đổi). Phương trình (1.3) là mô hình cơ bản thường được sử dụng để đo lường hiệu “ quả kỹ thuật. Trong mô hình này, tử số quan sát được nhưng mẫu số thì không.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về mô hình tham số trong ước lượng hiệu quả và năng suất của doanh nghiệp Việt Nam" của tác giả Nguyễn Văn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Ngô Văn, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng các mô hình tham số để đánh giá hiệu quả và năng suất của các doanh nghiệp tại Việt Nam, từ đó cung cấp những phương pháp và công cụ hữu ích cho việc cải thiện hoạt động kinh doanh. Bài viết không chỉ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các mô hình quản trị và hiệu quả kinh doanh, bạn có thể tham khảo bài viết "Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam", nơi nghiên cứu về năng suất lao động trong ngành ngân hàng, một lĩnh vực có nhiều điểm tương đồng với việc đánh giá hiệu quả doanh nghiệp.

Ngoài ra, bài viết "Nghiên Cứu Mô Hình Tồn Kho Tối Ưu Tại Công Ty Cổ Phần Đại Tân Việt" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc tối ưu hóa quy trình quản lý, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa tại Việt Nam", một nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về bối cảnh doanh nghiệp tại Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho bạn trong lĩnh vực quản trị kinh doanh.