Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, luận án trình bày các khái niệm về hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp cũng như việc đo lường chúng làm cơ sở lý luận cho các mô hình ước lượng tham số. Đồng thời, luận án trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về hiệu quả kỹ thuật, năng suất nhân tố tổng hợp và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật.Những vấn đề căn bản về năng suất và hiệu quả 1. Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế và hiệu quả quy mô Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) thì “hiệu quả-efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa lượng đầu ra thu được so với lượng đầu vào cần thiết để sản xuất ra lượng đầu ra đó, nó phản ánh mức độ thành công mà doanh nghiệp đạt được trong việc phân bổ các đầu vào được sử dụng và các đầu ra được sản xuất nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó.
Farell (1957) trong quá trình đánh giá nguồn gốc dẫn đến sự khác biệt trong năng suất nhân tố tổng hợp đã phân chia hiệu quả của doanh nghiệp thành hai thành phần là hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật là “khả năng cực tiểu hóa sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước”, nó phản ánh các doanh nghiệp cố gắng tránh lãng phí bằng việc sử dụng kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất. Còn hiệu quả kinh tế là “khả năng cho biết kết hợp các nhân tố đầu vào cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một sản lượng nhất định”. Ở đây mục tiêu của các doanh nghiệp đỏi hỏi sản xuất đầu ra với chi phí tối thiểu, hoặc sử dụng các đầu vào hiện có nhằm tối đa hóa doanh thu, hoặc phân bổ đầu vào và đầu ra để tối đa hóa lợi nhuận.
Mặc dù khái niệm hiệu quả kỹ thuật ra đời trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, nhưng không quan tâm đến đo lường nó. Điều này được giải thích bởi lý thuyết sản xuất tân cổ điển luôn giả định đạt hiệu quả kỹ thuật tối đa. Nhưng Leibenstein (1966) đã chỉ ra những vấn đề tồn tại giữa các giả định lý thuyết này và luan an 8 thực tế thực nghiệm. Điều này dẫn đến việc cần thiết trong đo lường mức hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế.
Khái niệm cơ bản làm cơ sở cho việc đo lường hiệu quả kỹ thuật bắt đầu với những mô tả của công nghệ sản xuất. Các công nghệ sản xuất có thể được biểu diễn bằng các đường đồng lượng, các hàm sản xuất, các hàm chi phí hoặc các hàm lợi nhuận. Bốn mô hình cung cấp bốn công cụ khác nhau để đo lường hiệu quả kỹ thuật. Mặc dù các phân tích dựa trên các mô hình này xuất hiện những khác biệt, nhưng chúng được tiếp cận cơ bản giống nhau.1: Khái niệm hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế Trong lý thuyết tân cổ điển, tất cả các doanh nghiệp hoạt động ở hiệu quả kỹ thuật tiềm năng tại các điểm dọc theo biên FF’ (Hình 1.
Do đó, nếu một doanh nghiệp đang hoạt động trên biên FF’ của nó, thì điểm hiệu quả kinh tế của nó có thể là B, điểm tiếp xúc với đường giá của nó. Nếu nó hoạt động ở B, với đầu vào I1 và đầu ra Q1 sẽ có lợi nhuận tối đa là π1 và đạt hiệu quả kinh tế tối đa. Cần lưu ý rằng, các doanh nghiệp được đề cập đến ở đây đang hoạt động trên các đường biên kỹ thuật của chúng nên hiệu quả phân bổ sẽ giống như hiệu quả kinh tế bởi giả định lý thuyết của hiệu quả kỹ thuật tiềm năng. Vì vậy, nếu một doanh nghiệp đang hoạt động tại điểm A trên biên của nó, sử dụng đầu vào I2 và sản xuất sản lượng Q2, lợi nhuận của nó có thể thu được là π 2 , và sự phi hiệu quả phân bổ của nó sẽ được tính π2 bằng.
π1 luan an 9 Trong thực tế, với một công nghệ mới, các doanh nghiệp sẽ hoạt động ở mức thấp hơn so với hiệu quả kỹ thuật tiềm năng do kiến thức không đầy đủ về kỹ thuật thực hành tốt nhất hoặc do các yếu tố tổ chức cản trở doanh nghiệp hoạt động trên đường biên của kỹ thuật ấy. Vì vậy, một doanh nghiệp sẽ hoạt động với một hàm sản xuất thực tế nằm dưới đường biên tiềm năng, giống như đường AA' trong hình 1. Ở đầu vào I2, nó hoạt động tại điểm C, sản xuất ra sản lượng Q3 và thu được lợi nhuận π 3. Ở trên hàm sản xuất thực tế này, điểm C là phi hiệu quả phân bổ.
Để tối đa hóa lợi nhuận của mình ( π 4 ) nó sẽ phải hoạt động tại điểm D, sử dụng đầu vào I3 và sản xuất ra sản lượng Q4. Tuy nhiên, tại D nó sẽ không đạt được hiệu quả kinh tế tiềm năng (theo định nghĩa, hiệu quả kinh tế tiềm năng chỉ có thể đạt được với hiệu quả kỹ thuật tiềm năng). Để phù hợp với lý thuyết sản xuất tân cổ điển, hiệu quả chỉ nên được đo lường ứng với hàm sản xuất biên FF'. Vì vậy, nếu một doanh nghiệp đang hoạt động tại C trên hàm sản xuất thực tế, thì phi hiệu quả kinh tế của nó sẽ π Q được đo bằng tỷ số 3 , hoặc 3.
Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy trong Hình 1.1 π1 Q1 đó là: Phi hiệu quả kinh tế bao gồm hai thành phần, phi hiệu quả kỹ thuật và phi hiệu quả phân bổ. Về lợi nhuận, tổng thiệt hại về phi hiệu quả kinh tế trong hoạt động tại điểm C là π 1 − π 3. Trong số này, sự tổn thất từ phi hiệu quả kỹ thuật là π 3 − π 2 , và tổn thất do phi hiệu quả phân bổ là π 1 − π 2. Về đầu ra, tổn thất tương ứng là Q2-Q3 và Q1-Q2.
Mô hình cơ sở này cung cấp khung lý thuyết để đo lường hiệu quả và phi hiệu quả. Các mô hình khác để đo lường được dựa trên khung khái niệm này. Các công cụ thường được sử dụng nhất trong phân tích đo lường hiệu quả kỹ thuật là hàm sản xuất nguyên thủy. Trong lý thuyết sản xuất tân cổ điển, hàm sản xuất nguyên thủy xác định sản lượng tối đa có thể có của một doanh nghiệp với sự kết hợp của các yếu tố đầu vào và công nghệ hiện có, có nghĩa nó là hàm sản xuất biên.
Bởi vì, lý thuyết tân cổ điển cho rằng các doanh nghiệp sẽ sử dụng các kỹ thuật thực hành tốt nhất với công nghệ đã chọn. Do đó, đường biên sản xuất của doanh nghiệp thứ i, sản xuất một đầu ra duy nhất với nhiều đầu vào theo những kỹ thuật thực hành tốt nhất có thể được định nghĩa như sau: Yi * = f ( xi1 , xi 2 ,.1) Ở đây Yi * và xij ( j = 1,., m ) lần lượt là biên của đầu ra và các đầu vào của doanh nghiệp thứ i, T là công nghệ chung của tất cả các doanh nghiệp trong mẫu. luan an 10 Hãy xem xét tình huống: Một doanh nghiệp i, không sản xuất sản lượng tối đa có thể của nó do một số đình trệ trong sản xuất được gây ra bởi các nhân tố khác nhau như phi giá cả và cơ cấu tổ chức kinh tế-xã hội. Hàm sản xuất của doanh nghiệp i có thể được viết trong khung lý thuyết tân cổ điển sửa đổi như sau: Yi = f ( xi1, xi 2 ,.2) Trong đó ui đại diện cho sự kết hợp các ảnh hưởng của nhiều yếu tố như phi giá cả và cơ cấu tổ chức mà nó kìm hãm doanh nghiệp đạt sản lượng tối đa có thể của nó ở mức Yi *.
Nói cách khác, exp (ui) phản ánh khả năng doanh nghiệp thứ i trong sản xuất ở mức hiện tại, hay còn gọi là hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp i. Các giá trị của u phụ thuộc vào tình hình thực tế mà doanh nghiệp phải đối mặt. Tuy nhiên, giới hạn trên có thể được thiết lập cho các giá trị của u. Khi không có các khó khăn kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến doanh nghiệp, u có giá trị 0.
Khi doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn, u nhận trị nhỏ hơn không. Giá trị thực tế của u phụ thuộc vào mức độ mà các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi các sự kìm hãm. Một thước đo về hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp i có thể được định nghĩa như sau: exp(ui)=Yi /Yi* = Sản lượng thực tế/Sản lượng tối đa có thể sản xuất (1.3) CR FF q VRS q1 C PP q2 B q3 A 0 x Hình 1.2: Khái niệm hiệu quả quy mô Hình 1.2 biểu diễn khái niệm hiệu quả theo quy mô. PP là đường biên sản xuất có hiệu suất thay đổi theo quy mô, FF là đường biên có công nghệ với hiệu suất không đổi.
Hiệu quả quy mô có thể được đo lường bởi tỉ số giữa hai công nghệ luan an 11 này. Nó chính là q2/q1, phản ánh sự tăng lên của mức sản lượng từ đơn vị có hiệu suất thay đổi theo quy mô đến đơn vị có quy mô tối ưu, tại cùng một mức đầu vào. Theo những khái niệm trên, TE tương ứng với hiệu suất thay đổi theo quy mô là hiệu quả kỹ thuật thuần túy. TE tương ứng với hiệu suất không đổi theo quy mô là tổng hiệu quả kỹ thuật.
Mối quan hệ giữa chúng có thể được xác định bởi phương trình: TE = SE x PE Trong đó, TE là hiệu quả kỹ thuật tương ứng với hiệu suất không đổi theo quy mô. PE là hiệu quả kỹ thuật thuần túy tương ứng với trường hợp hiệu suất thay đổi theo quy mô và SE là hiệu quả quy mô (phản ánh sự tăng lên của sản lượng từ hàm sản xuất thay đổi theo quy mô so với trường hợp không đổi). Phương trình (1.3) là mô hình cơ bản thường được sử dụng để đo lường hiệu “ quả kỹ thuật. Trong mô hình này, tử số quan sát được nhưng mẫu số thì không.