Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi giây trôi qua toàn cầu có thêm hai người bước vào độ tuổi 60, tương đương khoảng 58 triệu người cao tuổi gia tăng mỗi năm. Tại Việt Nam, tốc độ già hóa dân số thuộc nhóm 10 quốc gia nhanh nhất thế giới. Cả nước chính thức bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 với khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số, trong đó có hơn 2 triệu người trên 80 tuổi. Dự báo đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ chạm mốc 17% và vượt 25% vào năm 2050. Mặc dù tuổi thọ trung bình của người Việt đạt 74 tuổi, nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ đạt mức 64 tuổi, đồng nghĩa với việc người cao tuổi phải trải qua trung bình 10 năm cuối đời sống chung với bệnh tật và suy giảm chức năng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng hệ thống an sinh và dịch vụ công tác xã hội chuyên biệt trong chăm sóc y tế ban đầu tại khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất trạm y tế cơ sở còn thiếu thốn và quá trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi vẫn mang tính thụ động. Mục tiêu của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất của người cao tuổi, đồng thời xây dựng, thử nghiệm và lượng giá tính hiệu quả của mô hình công tác xã hội chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại địa bàn xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2018. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp mô hình can thiệp thực chứng, nâng cao tỷ lệ tiếp cận bảo hiểm y tế lên trên 90%, thúc đẩy năng lực tự chăm sóc sức khỏe và giảm áp lực quá tải cho hệ thống y tế tuyến trên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên hai lý thuyết trụ cột của ngành công tác xã hội và hai mô hình can thiệp thực hành:

Thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow được sử dụng làm cơ sở phân tích nhu cầu đa tầng của người cao tuổi, từ nhu cầu sinh lý, an toàn thể chất đến nhu cầu hòa nhập xã hội, được tôn trọng và tự khẳng định bản thân. Việc thỏa mãn nhu cầu thể chất là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sức khỏe tinh thần.

Thuyết Tiếp cận Nhận thức - Hành vi (mô hình S - C - R - B: Tác nhân kích thích - Nhận thức - Phản ứng - Hành vi) giải thích mối quan hệ giữa nhận thức về bệnh tật và hành vi tự chăm sóc sức khỏe. Lý thuyết chỉ ra rằng việc thay đổi nhận thức của người cao tuổi về phòng ngừa bệnh tật sẽ trực tiếp định hình lối sống lành mạnh và hành vi tuân thủ điều trị.

Bên cạnh đó, nghiên cứu kế thừa mô hình chăm sóc sức khỏe theo nguyên lý y học gia đình và mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau từng được Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) triển khai thực nghiệm tại Hải Dương và Bến Tre giai đoạn 2013 - 2015.

Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành then chốt gồm: Công tác xã hội (theo chuẩn Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Xã hội Hoa Kỳ NASW và Liên đoàn Nhân viên Xã hội Quốc tế IFSW), Người cao tuổi (theo Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010), Chăm sóc sức khỏe thể chất, Cộng đồng và Mô hình chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế hỗn hợp kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng hỏi khảo sát trực tiếp với cỡ mẫu n = 254 người cao tuổi. Cỡ mẫu được xác định theo công thức tính mẫu xác suất với độ tin cậy 95%, sai số biên e = 0,05 (cho ra cỡ mẫu chuẩn n = 231), kết hợp bổ sung 10% mẫu dự phòng (23 mẫu) để đạt tổng số 254 người. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện phân tầng theo độ tuổi và giới tính được lựa chọn nhằm phản ánh sát cơ cấu nhân khẩu học tại địa bàn nông thôn mới. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thống kê mô tả, kiểm định tương quan bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.

Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) và phỏng vấn sâu bán cấu trúc trên 11 khách thể đại diện (gồm 4 nam cao tuổi, 4 nữ cao tuổi, 1 cán bộ phụ trách Văn hóa - Xã hội, 1 Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã và 1 bác sĩ Trạm Y tế xã). Phương pháp này giúp đào sâu những rào cản tâm lý và khoảng trống chính sách mà số liệu định lượng chưa bộc lộ hết. Quá trình thu thập dữ liệu thực địa diễn ra liên tục từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 254 người cao tuổi tại xã Vĩnh Hòa đã ghi nhận 4 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, về đặc điểm nhân khẩu và mức sống: Độ tuổi của người cao tuổi trải dài từ 60 đến 85 tuổi, trong đó nhóm 61 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất với 11,8%, nhóm 85 tuổi chiếm 2,8%. Cơ cấu dân tộc gồm 83% người Kinh, 10% người Hoa và 7% người Tày. Về học vấn, có 38,6% (98 người) học hết cấp 1, 33,5% (85 người) có trình độ trung cấp hoặc dạy nghề và 3,5% (9 người) mù chữ. Đáng chú ý, 75,6% người cao tuổi vẫn đang trực tiếp tham gia lao động tạo ra thu nhập thông qua làm vườn và buôn bán nhỏ, với mức thu nhập phổ biến nhất là 3 triệu đồng/tháng (70 người, chiếm 27,6%) và 4 triệu đồng/tháng (51 người, chiếm 20,1%).

Thứ hai, về tình trạng sức khỏe và thói quen thăm khám: Tỷ lệ người cao tuổi tự đánh giá sức khỏe tốt chiếm 61%, mức trung bình chiếm 28% và mức yếu chiếm 11%. Tỷ lệ có thẻ Bảo hiểm Y tế (BHYT) đạt mức rất cao là 91% (231 người), chỉ có 9% chưa tham gia. Tuy nhiên, tỷ lệ đi khám sức khỏe định kỳ chỉ dừng ở mức 61,4% (156 người), trong khi có tới 38,6% (98 người) không khám định kỳ mà chỉ đi khám khi có bệnh nặng hoặc lựa chọn tự mua thuốc tại quầy tư nhân.

Thứ ba, về điều kiện sinh hoạt và sự quan tâm tinh thần: 100% người cao tuổi tại địa bàn khảo sát có phòng riêng, bảo đảm không gian nghỉ ngơi cá nhân. Mặc dù vậy, có tới 72,8% người cao tuổi phản ánh chưa được cán bộ địa phương đến thăm hỏi thường xuyên tại nhà, chỉ có 27,2% nhận được sự thăm hỏi định kỳ.

Thứ tư, về năng lực y tế cơ sở: Đánh giá của người cao tuổi về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ y bác sĩ tại Trạm Y tế xã đạt điểm trung bình 2,493 điểm; công tác tuyên truyền vận động đạt 2,714 điểm trên thang đo mức độ đáp ứng nhu cầu chăm sóc ban đầu.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bổ thu nhập kết hợp sơ đồ Ven (Venn diagram) thể hiện mối tương tác giữa người cao tuổi, Trạm Y tế và Hội Người cao tuổi. Phân tích cho thấy có sự bất cập rõ nét: tỷ lệ sở hữu BHYT rất cao (91%) nhưng tỷ lệ không khám định kỳ vẫn ở mức 38,6%. Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý e ngại thủ tục y tế, thói quen tự điều trị và thiếu sự định hướng của nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp tại cộng đồng.

Khi so sánh với công trình của Đàm Viết Cương và cộng sự (nghiên cứu 1.132 hộ gia đình tại 7 tỉnh), kết quả tại xã Vĩnh Hòa có nét tương đồng về tình trạng người cao tuổi thiếu kiến thức phòng bệnh (nghiên cứu trước chỉ ra 45% người cao tuổi không biết cách phòng cao huyết áp). Kết quả này cũng tái khẳng định phát hiện của Trương Tấn Minh và Nguyễn Hoa Hội tại Khánh Hòa (khảo sát 1.404 người), khi chỉ có 36,7% người cao tuổi có hành vi chăm sóc sức khỏe tốt dù nhận thức chung đạt 56,6%.

Ý nghĩa thực tiễn từ mô hình tại xã Vĩnh Hòa chứng minh rằng, việc lồng ghép kỹ năng tham vấn, quản lý ca và tổ chức sinh hoạt nhóm của công tác xã hội đã chuyển đổi nhận thức thụ động thành hành vi chăm sóc chủ động, giúp giảm thiểu đáng kể chi phí điều trị phát sinh cho gia đình và xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, tăng cường truyền thông giáo dục thay đổi nhận thức về chính sách BHYT và Luật Người cao tuổi. Mục tiêu hướng tới 100% hội viên người cao tuổi hiểu rõ quyền lợi khám chữa bệnh ban đầu và tự giác kiểm tra huyết áp định kỳ. Hoạt động do Hội Người cao tuổi phối hợp cùng công chức Văn hóa - Xã hội thực hiện thông qua hệ thống truyền thanh và sinh hoạt chi hội ấp trong vòng 6 tháng đầu năm 2022.

Thứ hai, thành lập và duy trì Câu lạc bộ Thể dục dưỡng sinh - Tự chăm sóc sức khỏe dựa trên mô hình liên thế hệ tự giúp nhau. Mục tiêu thu hút tối thiểu 80% người cao tuổi tại từng ấp tham gia rèn luyện thể chất 3 buổi mỗi tuần, tạo không gian giao lưu giải tỏa tâm lý. Trạm Y tế xã và Hội Người cao tuổi giữ vai trò điều phối chuyên môn, thực hiện liên tục từ quý 2 năm 2022.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình quản lý ca (case management) và lập hồ sơ theo dõi sức khỏe tại nhà cho nhóm người già neo đơn, bệnh mạn tính nặng. Mục tiêu đạt 100% người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên và người có hoàn cảnh neo đơn được nhân viên y tế kết hợp cộng tác viên xã hội thăm khám tại nhà ít nhất 1 lần/tháng, do Trạm Y tế xã chủ trì phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã.

Thứ tư, huy động nguồn lực xã hội hóa để củng cố quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Mục tiêu vận động tài trợ 100% kinh phí cấp thẻ BHYT cho nhóm người cao tuổi thuộc diện cận nghèo (hiện có 14 trường hợp) và hỗ trợ sinh kế cho 5 hộ người cao tuổi nghèo. UBND xã, Ban Chấp hành Hội Người cao tuổi và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Phú Giáo đồng tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2022 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Cán bộ quản lý an sinh xã hội và chính quyền cơ sở: Vận dụng khung mô hình can thiệp để cụ thể hóa tiêu chí y tế - văn hóa trong chương trình Xây dựng Nông thôn mới nâng cao và Nông thôn mới kiểu mẫu.

Nhân viên công tác xã hội và cán bộ y tế cơ sở: Khai thác quy trình quản lý ca, kỹ thuật đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA) và các bước tổ chức can thiệp nhóm nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Y tế công cộng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực chứng về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp định lượng - định tính (SPSS kết hợp phỏng vấn sâu) và cách thức vận dụng thuyết Maslow, thuyết Nhận thức - Hành vi vào can thiệp lâm sàng tại cộng đồng.

Ban Chấp hành Hội Người cao tuổi và các tổ chức phi chính phủ: Tham khảo bài học kinh nghiệm về vận hành câu lạc bộ tự giúp nhau, kỹ năng vận động nguồn lực xã hội và phương thức truyền thông chính sách hiệu quả cho hội viên cao tuổi.

Câu hỏi thường gặp

Điểm mới cốt lõi của mô hình công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại xã Vĩnh Hòa là gì? Mô hình chuyển đổi phương thức chăm sóc từ bị động tại cơ sở y tế sang chủ động dựa vào mạng lưới cộng đồng. Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò kết nối giữa Trạm Y tế, chính quyền và các đoàn thể, áp dụng kỹ thuật quản lý ca để hỗ trợ thể chất lẫn tinh thần cho người cao tuổi.

Tại sao nghiên cứu lại kết hợp Thuyết tháp nhu cầu Maslow và Thuyết Nhận thức - Hành vi? Thuyết Maslow giúp phân loại và nhận diện chính xác các thứ bậc nhu cầu chưa được đáp ứng (từ dinh dưỡng, an toàn đến nhu cầu được thăm hỏi, tôn trọng). Trong khi đó, thuyết Nhận thức - Hành vi cung cấp cơ chế can thiệp S - C - R - B nhằm thay đổi quan niệm sai lệch về bệnh tật, từ đó hình thành thói quen khám định kỳ và tự chăm sóc.

Tỷ lệ 91% người cao tuổi có thẻ BHYT trong khảo sát nói lên điều gì? Con số 91% phản ánh chính sách an sinh xã hội bao phủ tốt tại địa bàn đạt chuẩn nông thôn mới. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng có thẻ BHYT là điều kiện cần nhưng chưa đủ, bởi vẫn có 38,6% người cao tuổi không đi khám định kỳ, đòi hỏi phải có sự can thiệp truyền thông và đồng hành của công tác xã hội.

Những trở ngại lớn nhất khi triển khai mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng ở vùng nông thôn là gì? Rào cản lớn nhất gồm: nguồn nhân lực công tác xã hội chuyên trách tại xã chưa được định danh rõ ràng, cơ sở vật chất trạm y tế chỉ dừng ở mức điều trị bệnh thông thường, và kinh phí duy trì các hoạt động câu lạc bộ còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vận động xã hội hóa.

Mô hình tại xã Vĩnh Hòa có khả năng nhân rộng sang các địa phương khác hay không? Hoàn toàn có thể nhân rộng. Mô hình được thiết kế dựa trên các nguồn lực sẵn có tại cấp xã (Trạm Y tế, Hội Người cao tuổi, Chi hội ấp) với chi phí vận hành thấp, dễ dàng tương thích với các xã nông thôn đang trong tiến trình nâng cao chất lượng tiêu chí y tế và an sinh xã hội.

Kết luận

Năm luận điểm tổng kết cốt lõi từ công trình nghiên cứu:

  • Tốc độ già hóa dân số nhanh tại Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi về mạng lưới cơ sở dựa vào cộng đồng.
  • Thực trạng tại xã Vĩnh Hòa cho thấy tỷ lệ sở hữu BHYT cao (91%) và 100% người cao tuổi có phòng riêng, nhưng vẫn còn 38,6% chưa duy trì thói quen khám sức khỏe định kỳ và 72,8% thiếu vắng sự thăm hỏi tinh thần thường xuyên từ đoàn thể.
  • Việc ứng dụng các phương pháp công tác xã hội (quản lý ca, tham vấn, can thiệp nhóm) đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe thể chất của người cao tuổi.
  • Mô hình chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng chứng minh tính khả thi cao, huy động hiệu quả sự tham gia liên ngành giữa y tế, chính quyền và nguồn lực xã hội hóa.
  • Tính bền vững của mô hình phụ thuộc mật thiết vào việc duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ Dưỡng sinh - Tự giúp nhau và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Trạm Y tế với Hội Người cao tuổi.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa quy trình can thiệp công tác xã hội thực tế tại một xã nông thôn mới, cung cấp bộ dữ liệu thực chứng 254 mẫu phục vụ hoạch định chính sách an sinh cấp cơ sở. Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung hoàn thiện bộ chỉ số theo dõi sức khỏe tại nhà và thể chế hóa chức danh nhân viên công tác xã hội cấp xã giai đoạn 2022 - 2025. Các cấp chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và nhà nghiên cứu hãy cùng chung tay áp dụng, hoàn thiện mô hình chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng nhằm mang lại cuộc sống khỏe mạnh, an vui và trọn vẹn cho người cao tuổi.