Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nuôi trồng thủy sản nước ngọt tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản năm 2018, diện tích nuôi thủy sản nước ngọt đạt khoảng 450 nghìn ha với sản lượng đạt xấp xỉ 2.413 nghìn tấn, chiếm 36,79% tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Trong cơ cấu các đối tượng nuôi truyền thống, cá chép (Cyprinus carpio) chiếm vị trí thiết yếu nhờ khả năng thích ứng rộng, giá trị dinh dưỡng cao (hàm lượng đạm đạt 21,7%, mỡ 3,96%, đường 0,39%), dễ nuôi ghép trong các mô hình sinh thái và gắn liền với nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cũng như văn hóa tín ngưỡng. Tuy nhiên, tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá chép phụ thuộc chặt chẽ vào kỹ thuật ương nuôi ở các giai đoạn non, đặc biệt là giai đoạn chuyển tiếp từ cá bột lên cá giống.
Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ kỹ thuật cụ thể:
- Nắm vững quy trình kỹ thuật ương cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống.
- Đánh giá diễn biến sinh trưởng và xác định tỷ lệ sống của cá chép qua từng giai đoạn ương nuôi thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định qua các nội dung:
- Theo dõi các yếu tố môi trường ao nuôi (nhiệt độ, pH, oxy hòa tan DO).
- Theo dõi tình hình sinh trưởng về khối lượng và chiều dài của đàn cá chép.
- Ghi nhận tình hình phát sinh bệnh tật, các bệnh thường gặp và biện pháp xử lý.
- Đưa ra các khuyến nghị kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình ương cá chép áp dụng vào thực tiễn địa phương.
Đối tượng nghiên cứu là đàn cá chép (Cyprinus carpio) giai đoạn cá bột có nguồn gốc từ Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm đào tạo nghiên cứu và phát triển thủy sản thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, trong khung thời gian từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên cơ sở sinh học phát triển của loài cá chép (Cyprinus carpio Linnaeus, 1758) thuộc họ Cá chép (Cyprinidae). Tác giả tổng hợp các đặc tính phân loại, dinh dưỡng và sinh thái học của các dòng cá chép hiện diện tại Việt Nam, đặc biệt là dòng lai V1 (tổ hợp lai giữa chép trắng Việt Nam, chép vảy Hungary và chép vàng Indonesia do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I thực hiện) và con lai F1. Về mặt dinh dưỡng, cá chép bột tiêu biến noãn hoàng sau 3 đến 4 ngày, chuyển sang sử dụng động vật phù du cỡ nhỏ (luân trùng Rotifera, Daphnia), tiếp đó sử dụng sinh vật đáy, mùn bã hữu cơ và chuyển dần sang thức ăn dạng bột mịn, thức ăn tinh và thức ăn công nghiệp. Nhu cầu dinh dưỡng của cá thí nghiệm được đáp ứng bằng thức ăn công nghiệp dạng bột mịn và viên nổi của Công ty CJ Vina (đạt Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2019/KB-BN với hàm lượng protein thô không nhỏ hơn 45,0%, béo thô tối thiểu 5,0%, xơ thô tối đa 5,0%, năng lượng trao đổi từ 3500 Kcal/kg trở lên).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm ngoài thực địa được bố trí như sau:
- Bố trí thí nghiệm: Thực hiện trên hệ thống các ao đất có diện tích 1.000 m², độ sâu mực nước duy trì từ 1,2 đến 1,5 m. Thí nghiệm chia làm 3 đợt theo các giai đoạn:
- Đợt 1 (cá bột lên cá hương): Ao A1 (01/02/2020 – 01/03/2020), ao A2 (03/02/2020 – 10/03/2020), ao A3 (03/02/2020 – 10/03/2020); mật độ thả 150 con/m² (100.000 – 150.000 con/ao).
- Đợt 2 (cá hương lên cá giống cấp 1): Ao B1 (01/03/2020 – 01/04/2020), ao B2 (03/03/2020 – 10/04/2020), ao B3 (03/03/2020 – 10/04/2020); quy mô 50.000 con/ao.
- Đợt 3 (cá giống cấp 1 lên cá giống cấp 2): Bố trí tại các ao A1, A2, A3 từ 01/04/2020 đến 20/05/2020; quy mô 50.000 con/ao.
- Phương pháp thu thập và đo đạc chỉ tiêu:
- Đo đạc môi trường: Nhiệt độ nước đo bằng nhiệt kế bách phân vào buổi sáng và buổi chiều; pH và nồng độ oxy hòa tan (DO) được đo bằng máy đo chuyên dụng định kỳ.
- Định lượng cá bột: Sử dụng xi lanh chia vạch dung tích 10 ml; lấy 9 ml nước sau đó đưa cá bột vào đạt mức 10 cc, tiến hành rút mẫu 1 ml đếm trực tiếp số lượng cá thể để suy ra mật độ toàn đàn.
- Đo đạc sinh trưởng: Thu mẫu ngẫu nhiên bằng vợt hoặc lưới kéo (số lượng không ít hơn 50 cá thể đối với cá bột); chiều dài toàn thân ($L = L_2 - L_1$) đo trên giấy kẻ ô li hoặc thước đo chia vạch mm; khối lượng cá thể ($WG = P_2 - P_1$) cân bằng cân điện tử độ chính xác $\pm 0,01\text{ g}$.
- Tỷ lệ sống: Xác định bằng phương pháp kiểm kê toàn bộ đàn cá tại thời điểm kết thúc đợt ương theo công thức $S (%) = 100 \times \frac{SC}{SD}$ (trong đó $SC$ là số cá thu được, $SD$ là số cá thả ban đầu).
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn theo các phương pháp thống kê sinh vật học và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel 2007.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành thủy sản nước ngọt tại Việt Nam và vị trí của cá chép trong sản xuất nông hộ và nuôi thâm canh. Nêu rõ các giá trị về thương phẩm, giá trị dinh dưỡng, giá trị y học cổ truyền (được ghi nhận trong các tác phẩm y học như Nam dược thần hiệu, Hải thượng y tông kim giám) và ý nghĩa văn hóa của cá chép. Khẳng định việc thực hiện quy trình kỹ thuật ương nuôi tại cơ sở thực tập là yêu cầu thực tiễn giúp sinh viên củng cố chuyên môn và đánh giá khả năng sinh trưởng của cá chép tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Xác định 2 mục tiêu nghiên cứu và 4 yêu cầu chuyên môn cần đạt được.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về cơ sở thực tập và đối tượng nghiên cứu:
- Điều kiện cơ sở thực tập: Phân tích đặc điểm khí hậu, địa hình tỉnh Thái Nguyên (nằm trong vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ, lượng mưa trung bình 1.500 mm/năm, tổng tích ôn trên 7.500°C). Giới thiệu Trung tâm đào tạo nghiên cứu và phát triển thủy sản (thành lập từ tháng 6/2012, diện tích 2 ha gồm 23 ao nuôi, 1 hồ chứa 1,4 ha, 1 nhà điều hành và 1 trại sinh sản).
- Đặc điểm sinh học cá chép: Nguồn gốc, phạm vi phân bố, cấu tạo hình thái ngoài (2 đôi râu, cơ thể dẹp bên, vảy tròn, không có dạ dày thực thụ), tập tính ăn tạp thiên về động vật đáy và mùn bã hữu cơ. Phân tích chu kỳ sinh sản, sức sinh sản cá thể (từ 1 năm tuổi có thể đẻ 46.000 – 150.000 trứng) và các pha chuyển đổi dinh dưỡng của cá non.
- Kỹ thuật ương nuôi: Trình bày chi tiết các tiêu chuẩn kỹ thuật chuẩn bị ao (tháo cạn, bón vôi nông nghiệp liều lượng 7 – 10 kg/100 m² hoặc 130 kg/1.000 m² để diệt tạp và nâng pH, phơi đáy 3 – 5 ngày, bón lót phân chuồng ủ hoai 20 – 30 kg/100 m² hoặc phân xanh 40 – 50 kg/100 m² để gây màu nước). Kỹ thuật quản lý chế độ cho ăn theo nguyên tắc "4 định" (định lượng, định chất, định vị, định thời gian), kỹ thuật luyện cá bằng lưới kéo hoặc cào đáy trước khi san ao, các biện pháp diệt trừ địch hại (bọ gạo, nòng nọc, cá dữ).
- Bệnh học thủy sản: Mô tả mầm bệnh, triệu chứng, cơ chế lây lan và phác đồ phòng trị cho các bệnh: bệnh do virus mùa xuân (Rhabdovirus carpio), bệnh trùng mỏ neo (Lernaea), bệnh rận cá (Caligus sp.), bệnh xuất huyết do liên cầu khuẩn (Streptococcus sp.), bệnh viêm ruột do vi khuẩn (Aeromonas hydrophila), bệnh trùng quả dưa (Ichthyophthyrius multifiliis) và sán lá đơn chủ (Cichlidogyrus, Gyrodactylus).
- Tình hình nghiên cứu: Điểm lại thành tựu nghiên cứu chọn giống cá chép trên thế giới (ngân hàng gen 18 dòng cá chép Hungary và 13 giống quốc tế tại Viện Szarvas - Hungary) và trong nước (các chương trình chọn giống cá chép lai 3 máu V1 qua 6 thế hệ tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Mô tả chi tiết nguồn gốc đàn cá bột nhập từ Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc. Trình bày các bước chuẩn bị ao ương nuôi diện tích 1.000 m², kỹ thuật thuần hóa nhiệt độ cá khi thả (ngâm dụng cụ chứa cá trong ao 5 – 10 phút). Quy định chế độ thức ăn: phối trộn bột đậu nành nấu chín xay nhuyễn cùng lòng đỏ trứng gà luộc ở giai đoạn bột; sử dụng cám CJ Vina dạng hạt cải và thức ăn tinh hòa nước té đều khắp ao kết hợp phân bón định kỳ. Liệt kê trang thiết bị, hóa chất phục vụ theo dõi (nhiệt kế bách phân, máy đo DO, máy đo pH, cân điện tử, giấy kẻ ô li, vôi, thuốc tím, formalin, kháng sinh Erythromycin, Amoxicillin, chế phẩm sinh học Bio-DW, BioBactil). Mô tả phương pháp đo đạc, công thức tính toán tăng trưởng chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống, cũng như công cụ xử lý dữ liệu Excel 2007.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương tập trung thảo luận kết quả theo dõi thực tế qua 3 giai đoạn:
- Diễn biến môi trường ao ương: Báo cáo số liệu đo đạc 16 mốc thời gian từ ngày 03/02/2020 đến 18/05/2020. Đánh giá sự phù hợp của các chỉ số nhiệt độ, pH và DO đối với sinh lý phát triển của cá chép.
- Giai đoạn cá bột lên cá hương: Phân tích tốc độ tăng trưởng kích thước từ 0,6 – 0,8 cm lên trung bình 1,63 cm, khối lượng đạt 0,33 g/con. Phân tích nguyên nhân tỷ lệ sống đạt mức trung bình thấp (dao động 36,8% – 64,8%) do thể trạng cá bột còn non yếu, phản xạ trốn tránh địch hại chưa hoàn thiện.
- Giai đoạn cá hương lên cá giống cấp 1: Ghi nhận mức tăng trưởng đạt chiều dài trung bình 2,53 cm, khối lượng trung bình 0,63 g/con. Tỷ lệ sống nâng lên rõ rệt (trung bình đạt 64,5% trên tổng 150.000 cá thể của 3 ao) nhờ cá đã chủ động bắt mồi và có sức đề kháng cao hơn.
- Giai đoạn cá giống cấp 1 lên giống cấp 2: Cá hoàn thiện vây vảy, thích nghi vững chắc với môi trường, tỷ lệ sống đạt mức rất cao từ 82,4% đến 90,2%.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về tính khả thi của quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cá chép áp dụng tại Trung tâm Thủy sản Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; khẳng định đàn cá đạt các chỉ tiêu kỹ thuật về tăng trưởng và tỷ lệ sống theo quy chuẩn. Tác giả kiến nghị các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng nước ao, tăng cường phòng trừ sinh vật gây hại đầu vụ và tiếp tục nhân rộng quy trình cho các hộ chăn nuôi thủy sản trong vùng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về các yếu tố môi trường ao nuôi và chỉ tiêu sinh học của cá chép qua từng giai đoạn ương nuôi tại cơ sở.
Bảng tổng hợp diễn biến môi trường nước ao ương (01/02/2020 – 20/05/2020):
| Chỉ tiêu theo dõi |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
Giá trị trung bình |
| Nhiệt độ buổi sáng (°C) |
20,0 |
23,0 |
21,8 |
| Nhiệt độ buổi chiều (°C) |
21,4 |
24,4 |
22,8 |
| Nồng độ oxy hòa tan - DO (mg/l) |
4,2 |
5,5 |
4,7 |
| Độ pH nước |
7,1 |
7,6 |
7,3 |
Bảng tổng hợp chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chép qua các giai đoạn:
| Giai đoạn ương nuôi |
Khối lượng trung bình (g/con) |
Chiều dài trung bình (cm) |
Tỷ lệ sống ghi nhận (%) |
| Cá bột lên cá hương (Ao A1, A2, A3) |
0,33 (0,25 – 0,50) |
1,63 (1,50 – 1,80) |
36,8 – 64,8 |
| Cá hương lên cá giống cấp 1 (Ao B1, B2, B3) |
0,63 (0,50 – 0,70) |
2,53 (2,40 – 2,70) |
61,0 – 66,9 (TB: 64,5) |
| Cá giống cấp 1 lên cá giống cấp 2 (Ao A1, A2, A3) |
— |
— |
82,4 – 90,2 |
Về quy trình phòng trị bệnh, khóa luận đã hệ thống hóa các biện pháp thực nghiệm:
- Sử dụng vôi bột định kỳ 1 – 2 kg/100 m² và treo túi vôi (2 – 4 kg/túi) tại khu vực cho ăn để sát trùng nước.
- Bổ sung vitamin C liều lượng 2 – 3 g/kg thức ăn định kỳ 7 ngày/lần nhằm gia tăng sức đề kháng.
- Ứng dụng chế phẩm sinh học BioBactil (3 – 5 g/kg thức ăn) hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột và men vi sinh Bio-DW (1 – 2 lít/1.000 m³ nước) theo chu kỳ 15 ngày/lần để ổn định chất lượng nước.
- Xác định quy trình xử lý lá xoan bón đáy ao với liều 0,3 – 0,5 kg/m³ nước hoặc dùng thuốc tím KMnO4 (10 – 12 ppm) để khống chế ký sinh trùng trùng mỏ neo (Lernaea).
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc chuẩn hóa thực tế quy trình ương cá chép theo 3 cấp độ liên tục trong điều kiện ao đất tại Thái Nguyên, cung cấp hệ thống dữ liệu đối chứng về tỷ lệ sống và mức tăng khối lượng cụ thể tương thích với các tài liệu nghiên cứu chọn giống trước đây của Viện Nuôi trồng Thủy sản I.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn thực tiễn được ghi nhận:
- Phạm vi nghiên cứu mới được tiến hành tập trung tại một cơ sở (Trung tâm Đào tạo Nghiên cứu và Phát triển Thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) trong mùa vụ từ tháng 11/2019 đến tháng 5/2020, chưa có sự đối chứng mở rộng tại các loại hình thủy vực khác như ruộng trũng hay ao lót bạt.
- Tỷ lệ sống ở giai đoạn đầu (cá bột lên cá hương) có sự dao động tương đối lớn giữa các đợt ương (từ 36,8% đến 64,8%), cho thấy mức độ kiểm soát các yếu tố địch hại và độ đồng đều của thức ăn tự nhiên trong ao đất còn gặp khó khăn.
- Hướng mở rộng tiếp theo bao gồm việc tối ưu hóa tỷ lệ sinh khối động vật phù du ban đầu bằng các nguồn phân ủ hữu sinh học chuyên dụng, đồng thời đánh giá sinh trưởng cá chép thương phẩm từ đàn giống cấp 2 thu được trong các mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên thuộc các ngành Nuôi trồng thủy sản, Chăn nuôi - Thú y, Sinh học ứng dụng cũng như cán bộ kỹ thuật tại các trạm, trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc.
Các nội dung có giá trị tham khảo kỹ thuật cao gồm:
- Quy trình chuẩn bị ao và kỹ thuật bón phân gây màu nước (liều lượng phân chuồng, phân xanh, tỷ lệ phối trộn vôi bột).
- Phương pháp định lượng mật độ cá bột bằng xi lanh chia vạch 10 ml và kỹ thuật luyện cá thích nghi trước khi san ao, xuất bán.
- Bảng thông số môi trường nước ngưỡng chuẩn (pH, DO, nhiệt độ) và hệ thống phác đồ điều trị các bệnh ký sinh trùng, vi khuẩn và virus trên cá non.
Câu hỏi thường gặp
1. Mật độ ương và diện tích ao thích hợp cho giai đoạn cá bột lên cá hương là bao nhiêu?
Theo quy trình thực nghiệm trong khóa luận, diện tích ao ương phù hợp nhất dao động từ 300 m² đến 1.000 m² với độ sâu mực nước từ 1,2 m đến 1,5 m. Mật độ thả cá bột được bố trí là 150 con/m² (tương đương 100.000 – 150.000 con trên một ao diện tích 1.000 m²).
2. Công thức thức ăn dùng cho cá chép bột trong những ngày đầu ra ao được chế biến như thế nào?
Thức ăn cho cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng gồm hạt đậu nành nấu chín mềm, xay nhuyễn bằng máy kết hợp với lòng đỏ trứng gà luộc chín bóc bỏ lòng trắng. Hỗn hợp này được bóp nhuyễn, hòa loãng vào nước và té đều xung quanh ao.
3. Tỷ lệ sống trung bình của cá chép qua từng giai đoạn ương nuôi đạt mức bao nhiêu?
Kết quả thực nghiệm ghi nhận: giai đoạn từ bột lên hương đạt tỷ lệ sống dao động từ 36,8% đến 64,8%; giai đoạn từ cá hương lên cá giống cấp 1 đạt tỷ lệ sống trung bình 64,5% (dao động từ 61,0% đến 66,9%); giai đoạn từ giống cấp 1 lên giống cấp 2 đạt tỷ lệ sống cao nhất, dao động từ 82,4% đến 90,2%.
4. Kỹ thuật "đùa luyện cá" được thực hiện với mục đích gì và thao tác như thế nào?
Luyện cá được tiến hành vào tuần thứ 5 hoặc trước khi san ao 3 – 4 ngày (thực hiện vào 8 – 9 giờ sáng hoặc chiều mát). Người nuôi dùng cào đẩy sát đáy hoặc dùng lưới kéo gom cá vào góc ao giữ trong 10 – 15 phút rồi thả ra. Biện pháp này giúp cá quen với môi trường nước đục, chịu đựng được nồng độ oxy thấp, làm cơ thể cá rắn chắc, giảm tỷ lệ hao hụt khi đánh bắt vận chuyển, đồng thời làm xáo trộn dưỡng chất tầng đáy kích thích vi sinh vật phát triển.
5. Khóa luận khuyến cáo phác đồ phòng trị bệnh trùng mỏ neo (Lernaea) trên cá ương như thế nào?
Để phòng bệnh, sử dụng lá xoan bón lót đáy ao trước khi thả cá với liều lượng 0,3 kg/m³ nước. Khi cá bị bệnh, bón lá xoan trực tiếp xuống ao với liều 0,4 – 0,5 kg/m³ nước (lưu ý cấp nước kịp thời vì lá xoan phân hủy làm tiêu hao oxy). Ngoài ra có thể tắm cho cá bằng dung dịch thuốc tím KMnO4 nồng độ 10 – 12 ppm trong 1 – 2 giờ ở nhiệt độ 20 – 30°C hoặc dùng Seaweed xử lý định kỳ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lò Thị Thùy Dương đã thực hiện quy trình kỹ thuật ương cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống cấp 2 tại Trung tâm Đào tạo Nghiên cứu và Phát triển Thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các chỉ số môi trường nước trong suốt chu kỳ thử nghiệm được duy trì ổn định với nhiệt độ trung bình từ 21,8°C đến 22,8°C, pH trung bình 7,3 và hàm lượng oxy hòa tan đạt 4,7 mg/l, tạo điều kiện thuận lợi cho cá tăng trưởng từ 0,33 g (1,63 cm) ở giai đoạn hương lên 0,63 g (2,53 cm) ở giai đoạn giống cấp 1. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi của quy trình chăm sóc, kiểm soát dịch bệnh và luyện cá, cung cấp cơ sở thực nghiệm phục vụ việc hoàn thiện công nghệ sản xuất cá giống nước ngọt tại địa phương.