chương 1 học viên đã nêu được vấn đề nghiên cứu đó là vai trò của cấu trúc sở hữu cũng như cơ chế quản trị doanh nghiệp đ ối v ới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể là sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và một vài đặc điểm của cơ chế quản trị doanh nghiệp tác động tới hiệu quả hoạt động. Trong chương này, học viên cũng gi ới h ạn phạm vi nghiên cứu của bài viết bao gồm 76 doanh nghi ệp ngành công nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố H ồ Chí Minh trong giai đoạn 2012-2016. Bài viết này sử dụng phương pháp định lượng để xem xét các tác động của sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và một vài đặc điểm của co chế quản trị tới hiệu quả hoạt động của danh nghiệp.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU, QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 2. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2. Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiện nay, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thứ nhất, có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp, thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được và các chi phí ban đầu bỏ ra để có thể đạt được kết quả đó, độ chênh l ệch gi ữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Trên góc độ này, hi ệu qu ả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng v ề m ặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Đ ể đo l ường hiệu quả theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các mô hình phi tham số như DEA (Data Envelopment Analysis - mô hình phân tích bao số liệu) hay SFA (Stochastic Frontier Analysis - phương pháp phân tích biên). Thứ hai, cũng có quan điểm cho rằng hiệu quả hoạt động chính là phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra đ ể có được kết quả đó. Do đó, theo hướng tiếp cận này, một số nghiên c ứu s ử dụng các chỉ tiêu như lợi nhuận trước thuế và lãi (EBIT), lợi nhu ận sau thuế (EAT) để đo lường hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, hướng tiếp cận này bộc lộ mặt hạn chế vì chưa thể hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí trong sự vận động biến đổi liên tục. Thứ ba, một hướng tiếp cận được đề xuất nhằm khắc phục hạn chế nêu trên để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh là đại lượng được đo 11 bằng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí, đo lường thông qua các chỉ tiêu tương đ ối nh ư ch ỉ s ố tăng trưởng doanh thu trên tăng trưởng chi phí. Tuy v ậy, h ướng ti ếp c ận này cũng có nhược điểm là không xét đến mức độ tuyệt đối của k ết qu ả kinh doanh và chi phí kinh doanh. Cuối cùng, một hướng tiếp cận phổ biến là xem xét hiệu quả kinh doanh phản ánh lợi nhuận thu được trên phần vốn bỏ ra ban đầu.
Hướng tiếp cận này có ưu điểm là phản ảnh được mục đích cuối cùng c ủa các doanh nghiệp là lợi nhuận. Tuy nhiên lại có nhược điểm là ch ỉ tính đ ến nguồn vốn đầu tư mà bỏ qua các nguồn lực khác đã sử dụng. Các chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này thường là các chỉ số lợi nhuận như: ROA, ROE… Trong bài viết, học viên đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo hướng tiếp cận cuối cùng. Cụ thể, học viên sẽ sử d ụng ch ỉ s ố ROE, ROA để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Richard et al. (2009) thì hiệu quả hoạt động của công ty là một trong những phần quan trọng nhất trong nghiên cứu về quản trị. Các hoạt động về marketing, nguồn nhân lực, chiến lược và điều hành doanh nghiệp đều được đánh giá dựa trên hi ệu qu ả ho ạt đ ộng c ủa công ty. Việc đo lường hiệu quả hoạt động giúp cho các nhà nghiên c ứu, nhà quản trị đánh giá cụ thể được các hoạt động của công ty và nhà qu ản lý.
Cũng theo các học viên thì vẫn chưa có sự th ống nh ất trong cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty. Đồng thời ba nhóm đo l ường thường được sử dụng trong nghiên cứu là đo hiệu quả hoạt động theo thang đo giá trị kế toán, giá trị thị trường và thang đo kết hợp cả hai thang đo giá trị kế toán và giá trị thị trường. Đo hiệu quả ho ạt đ ộng theo giá tr ị 12 kế toán sử dụng các chỉ số như: ROA, ROE, EBIT, ROCE, ROI… Đo hiệu quả hoạt động theo giá trị thị trường sử dụng: EPS, P/E, Market value, Stock price… Đo hiệu quả hoạt động kết hợp hai cách đo lường kế toán và giá trị thị trường sử dụng: EVA, CVA, DCF, NPV… Cùng quan điểm như trên, Kallamu (2016) cũng nhận xét rằng các nghiên cứu trước đây sử dụng các thang đo về hiệu quả khác nhau. Đi ều đó cho thấy rằng chưa thống nhất một phương pháp đo lường tốt nhất về hiệu quả của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu của mình, học viên đã s ử dụng thang đo theo kế toán dùng ROA và thang đo hi ệu qu ả th ị tr ường Tobin’s Q để đo lường hiệu quả của doanh nghiệp. Theo học viên chỉ số Tobin’s Q cho thấy sức khoẻ tài chính của một công ty và nó được dùng để đo lường hiệu quả theo giá trị thị trường của công ty. Sử dụng Tobin’s Q có thể nâng cao được độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Trong khi đó, Srivastava (2011) cho rằng khi nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì việc đo lường hiệu quả doanh nghiệp theo thang đo giá trị kế toán rất quan trọng.
Vì trên thực tế, các ch ỉ s ố tài chính như ROA, ROE là những chỉ số quan trọng nhất được các nhà đầu tư tại Ấn Độ sử dụng để đo lường, đánh giá hiệu quả của công ty. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng nên chọn chỉ số thích hợp liên quan đến vấn đề nghiên cứu và kết luận các k ết qu ả d ựa trên s ự lựa chọn này. Quản trị doanh nghiệp Các định nghĩa và giải thích về quản trị doanh nghiệp khác nhau đã tồn tại kể từ khi các tác giả xem xét quản trị doanh nghi ệp t ừ các quan điểm khác nhau bên cạnh các khuôn khổ lý thuyết khác nhau. Lý thuyết người đại diện cho rằng quản trị doanh nghiệp là một h ệ thống của người chủ sở hữu công ty thiết lập nhằm kiểm tra các nhà quản 13 lý để đảm bảo rằng các hành động và quyết định của nhà quản lý luôn vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích của người chủ sở hữu (Jensen & Meckling, 1976).
Các định nghĩa bị ảnh hưởng bởi lý thuyết đại di ện cho r ằng khi quyền quản lý và quyền sở hữu được tách rời, chủ sở hữu cần phải thiết lập một cơ chế để kiểm soát nhà quản lý nhằm đảm bảo rằng các hành động và các quyết định của nhà quản lý sẽ vì lợi ích t ốt nh ất cho c ổ đông. Cơ chế kiểm soát đó được gọi là quản trị doanh nghiệp, quản trị công ty, cơ chế quản trị doanh nghiệp… Shleifer & Vishny (1997) lập luận rằng quản trị doanh nghiệp đề cập đến cách thức mà các bên cung cấp tài chính đảm bảo được rằng họ sẽ thu được lợi nhuận từ những khoản đầu tư của họ. Denis (2001) cũng đồng ý rằng quản trị doanh nghiệp gắn liền với cả quyền sở hữu, quyền kiểm soát và nhằm mục đích tối đa hóa giá trị của các cổ đông. Theo hướng tiếp cận khác, lý thuyết các bên liên quan th ừa nh ận rằng các cá nhân trong và ngoài công ty (bao gồm nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, công chúng, chính phủ, cá nhân hoặc nhóm l ợi ích khác) ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các hành động của công ty.
Các đ ối t ượng này được gọi là các bên liên quan (Freeman, 1984). Các công ty có trách nhiệm thực hiện các hành động có lợi cho họ và mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Định nghĩa của Solomon (2007) phù hợp với lý thuyết các bên liên quan khi cho rằng bên cạnh việc tối đa hoá giá trị cổ đông, các v ấn đ ề xã hội và môi trường có ý nghĩa quan trọng đối với công ty. Cùng quan đi ểm tiếp cận này, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh t ế (OECD) cũng đ ưa ra định nghĩa: “Quản trị doanh nghiệp liên quan đến quyền và trách nhi ệm của ban lãnh đạo công ty, hội đồng quản trị, các c ổ đông và các bên liên quan.
Phải làm thế nào để công ty hoạt động hiệu quả và tạo được sự tin tưởng của thị trường. Vì thế quản trị doanh nghiệp tốt là đi ều c ần thi ết cho các công ty muốn tiếp cận nguồn vốn và các quốc gia mu ốn khuy ến 14 khích đầu tư trong lĩnh vực tư nhân. Nếu các công ty ho ạt đ ộng t ốt, h ọ sẽ thành công. Điều này sẽ giúp họ thu hút được các nhà đầu tư để có thể giúp họ tăng trưởng nhanh hơn.
Quản trị doanh nghiệp yếu kém sẽ làm suy yếu tiềm năng của công ty và phát sinh những khó khăn v ề tài chính và th ậm chí gian lận. Do trọng tâm của bài viết này liên quan đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đánh giá hiệu quả dựa trên góc độ kế toán hơn là tác động của quản trị doanh nghiệp lên các yếu tố xã hội và môi tr ường. Do đó, lý thuyết các bên liên quan dường như khác biệt so với mục đích nghiên cứu của học viên. Trong luận văn này, học viên tiếp cận khái ni ệm qu ản tr ị doanh nghiệp từ khuôn khổ lý thuyết đại diện.
Theo đó, quản trị doanh nghiệp là được coi là một hệ thống giám sát kiểm tra và cân b ằng đ ể đ ảm bảo rằng lợi ích của cổ đông được bảo vệ.