CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế - xã hội 1.1 Khái niệm phát triển Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến khi tiêu vong,. nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Hoặc có thể hiểu, “phát triển là quá trình nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trên nhiều khía cạnh khác nhau như: nâng cao mức sống vật chất; nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa xã hội; cải thiện giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân; cải thiện quan hệ xã hội, tạo sự bình đẳng về cơ hội và bảo đảm các quyền chính trị và công dân” [1, tr 44].2 Khái niệm phát triển kinh tế Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình tăng tiến mọi mặt về kinh tế trong một thời điểm nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Theo Kinh tế chính trị Mác - Lê Nin, “Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế đi kèm với sự hoàn chỉnh cơ cấu, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống”. Phát triển kinh tế biểu hiện: Một là, sự tăng lên của GNI, GDP hoặc GNI và GDP/người.
Hai là, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống, nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành đều tăng lên. Ba là, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện, tăng lên. Muốn vậy, không phải chỉ có GDP hoặc GNI theo đầu người tăng lên, mà còn phải phân phối hợp lí kết quả tăng trưởng, ổn định lạm phát, ngăn ngừa khủng hoảng nhờ có thể chế kinh tế tiến bộ. Chất lượng cuộc sống tăng lên còn thể hiện ở chỗ sản phẩm làm ra có chất lượng ngày càng cao.
Ngoài ra, việc giữ gìn môi trường trong sạch cũng đang là một tiêu chuẩn của chất lượng cuộc sống và là điều kiện quan trọng của sự phát triển kinh tế bền vững [2, tr42]. 3 Phát triển kinh tế được xem như là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Là quá trình biến đổi cả về lượng và chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội [3, tr 15]. Theo cách hiểu như vậy, nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên mỗi đầu người.
Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất và thực hiện các mục tiêu khác của sự phát triển. Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế. Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được.
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong mỗi quốc gia không chỉ là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân, tuổi thọ bình quân tăng,. Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển. Phát triển kinh tế bền vững: là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, xã hội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của con người ở các thế hệ hiện tại và tương lai.3 Khái niệm phát triển xã hội Theo nghĩa rộng, phát triển xã hội bao gồm phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển xã hội từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng xây dựng xã hội phát triển dân chủ, văn minh, tiến bộ, đảm bảo cuộc sống văn minh vật chất và tinh thần của con người, tất cả vì hạnh phúc của con người.
Theo đó, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải được tôn trọng quản lý phát triển nhằm bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do 4 và công bằng, thỏa mãn nhu cầu nâng cao đời sống vật chất tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.4 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội Trong lĩnh vực phát triển kinh tế của đất nước, Đảng cầm quyền và Nhà nước phải xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế phát huy quyền tự do kinh doanh của công dân, bảo đảm tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở vật chất nâng cao đời sống của toàn dân. Trong lĩnh vực xã hội, phải đảm bảo môi trường sống an toàn, công bằng, tự do cho các thành viên trong xã hội. Nhà nước có trách nhiệm cao nhất trong việc giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh trong bất kỳ cộng đồng và quốc gia nào. Đó là giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, chăm lo giáo dục, an sinh xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tội phạm xã hội, chăm lo người già, tre em mồ côi, người khuyết tật.
tạo điều kiện để họ hòa nhập cộng đồng. Thực tiễn phát triển xã hội ở nhiều nước hiện nay đặt ra yêu cầu phải gắn với phát triển bền vững. Điều đó có nghĩa là phát triển bền vững trở thành yêu cầu đối với mọi lĩnh vực đời sống xã hội chứ không chỉ riêng lĩnh vực kinh tế. Như vậy, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại đều có nhu cầu phát triển bền vững.
Nội hàm phát triển bền vững đối với từng lĩnh vực có mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương thức thực hiện khác nhau song đều hướng đến mục tiêu chung là tất cả vì cuộc sống hạnh phúc của con người, vì thế sự phát triển bền vững của từng lĩnh vực sẽ có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng. Mối quan hệ tương tác biện chứng giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ biện chứng giữa lĩnh vực kinh tế với lĩnh vực xã hội. Phát triển kinh tế tạo tiền đề và điều kiện để phát triển các lĩnh vực xã hội. Nói cách khác, phát triển các lĩnh vực xã hội là mục tiêu, động lực kinh tế.
Phát triển xã hội gắn bó chặt chẽ, hiện diện và đặt ra yêu cầu đối với quá trình phát triển trong lĩnh vực kinh tế là kết quả của quá trình phát triển kinh tế. Một xã hội văn minh là một xã 5 hội bảo đảm dân chủ thực sự, có đời sống vật ngày chất ngày càng cao và bảo đảm công bằng, tự do, tiến bộ xã hội cho mọi thành viên của xã hội. Trong quá trình phát triển xã hội có thể lĩnh vực kinh tế có bước phát triển trước mới đủ điều kiện, tiền đề phát triển xã hội; hoặc có thể trong điều kiện kinh tế phát triển ở mức độc nhất định cần phải thực hiện ngay các yếu cầu phát triển xã hội. Vấn đề đặt ra là ngay trong từng bước phát triển kinh tế phải thực hiện phát triển xã hội.
Sự phát triển xã hội sẽ củng cố, bảo đảm sự phát triển vững chắc của lĩnh vực kinh tế. Sự phát triển kinh tế tạo ra tiền đề, điều kiện để phát triển xã hội. Ở đây, dường như kinh tế quy định và quyết định xã hội và điều đó cũng có nghĩa là trong những điều kiện xác định cần phải ưu tiên phát triển kinh tế mới tạo tiền đề và điều kiện để phát triển xã hội. Chúng ta muốn phát triển một xã hội bảo đảm lợi ích vật chất ngày càng đầy đủ cho con người, mọi thành viên xã hội đều được chăm sóc về an ninh, an toàn, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội… Nhưng nếu kinh tế không phát triển thì không có vật chất để xây dựng một xã hội theo mong muốn ấy.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển xã hội, không phải chờ đợi sự phát triển đầy đủ của các lĩnh vực kinh tế mới thực hiện các yêu cầu, nội dung phát triển xã hội. Kết hợp một cách hợp lý giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội tạo ra sự phát triển hài hoà và bền vững của xã hội.2 Nội dung phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp huyện 1.1 Lĩnh vực kinh tế a) Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới Phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững gắn với quản lý, phát triển trồng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh liên kết công - nông để nâng cao hiệu quả sản xuất, đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm và để tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn. Phấn đấu đưa nông nghiệp trở thành ngành có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế của huyện; 6 giá trị sản xuất khu vực nông - lâm nghiệp đạt nhịp độ phát triển bình quân hằng năm đều tăng.
Tập trung các nguồn lực thực hiện đầu tư theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Đẩy mạnh thực hiện những tiêu chí không yêu cầu nhiều kinh phí đầu tư như tuyên truyền thay đổi nhận thức về công tác giảm nghèo, và phát động các phòng trào thi đua đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, và cải thiện môi trường sinh hoạt ở nông thôn. Củng cố và nâng cao năng lực cán bộ quản lý ở cấp chính quyền cơ sở; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn để thực hiện việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại.