Luận văn thạc sĩ y học đánh giá tác dụng của bài thuốc đại tràng hv điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm

Luận văn thạc sĩ y học đánh giá hiệu quả bài thuốc Đại Tràng HV trong điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Tác giả

Phạm Ngọc Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ y học

2021

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ y học

Luận văn thạc sĩ y học này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của bài thuốc Đại Tràng HV trong điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật. Nghiên cứu được thực hiện tại Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Anh Tuấn. Mục tiêu chính là xác định tác dụng giảm nhu động ruột, tái hấp thu nước và các ion, cũng như phục hồi tổn thương do hội chứng ruột kích thích gây ra. Nghiên cứu này là một phần quan trọng trong việc phát triển các phương pháp điều trị bệnh đường ruột bằng y học cổ truyền.

1.1. Đánh giá hiệu quả

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của bài thuốc Đại Tràng HV thông qua các thử nghiệm trên động vật, bao gồm đánh giá tác dụng giảm nhu động ruột và tái hấp thu nước. Kết quả cho thấy bài thuốc có khả năng điều chỉnh nhu động ruột, giảm triệu chứng của hội chứng ruột kích thích. Điều này mở ra hướng điều trị mới cho các bệnh nhân mắc bệnh đường ruột, đặc biệt là khi kết hợp với y học hiện đại.

1.2. Bài thuốc Đại Tràng HV

Bài thuốc Đại Tràng HV được xây dựng dựa trên bài thuốc cổ phương Hương sa lục quân, gia thêm Bạch thược và Thần khúc. Thành phần này giúp tăng cường hiệu quả điều trị, đặc biệt là trong việc giảm đau và điều hòa chức năng tiêu hóa. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng bài thuốc trong điều trị hội chứng ruột kích thích, đồng thời khẳng định giá trị của thuốc đông y trong y học hiện đại.

II. Điều trị hội chứng ruột kích thích

Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn chức năng mạn tính của hệ tiêu hóa, gây đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện. Nghiên cứu này tập trung vào việc điều trị hội chứng ruột kích thích bằng bài thuốc Đại Tràng HV, một phương pháp kết hợp giữa y học cổ truyềny học hiện đại. Kết quả cho thấy bài thuốc có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng và phục hồi tổn thương đường ruột.

2.1. Hội chứng ruột kích thích

Hội chứng ruột kích thích là một bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhiều người. Nghiên cứu này phân tích cơ chế bệnh sinh của hội chứng, bao gồm tăng nhận cảm nội tạng và rối loạn vận động ruột. Việc sử dụng bài thuốc Đại Tràng HV giúp điều chỉnh các rối loạn này, mang lại hiệu quả điều trị cao.

2.2. Phương pháp điều trị

Nghiên cứu đề xuất phương pháp điều trị hội chứng ruột kích thích bằng bài thuốc Đại Tràng HV, kết hợp với các phương pháp hiện đại như thuốc chống co thắt và điều hòa chức năng vận động ruột. Kết quả cho thấy sự kết hợp này mang lại hiệu quả cao trong việc giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

III. Nghiên cứu y học và thử nghiệm trên động vật

Nghiên cứu này thực hiện các thử nghiệm trên động vật để đánh giá hiệu quả của bài thuốc Đại Tràng HV. Các thử nghiệm bao gồm đánh giá tác dụng giảm nhu động ruột, tái hấp thu nước và phục hồi tổn thương đường ruột. Kết quả cho thấy bài thuốc có hiệu quả cao trong việc điều trị hội chứng ruột kích thích, mở ra hướng nghiên cứu mới trong y học cổ truyền.

3.1. Thử nghiệm trên động vật

Các thử nghiệm trên động vật được thực hiện để đánh giá tác dụng của bài thuốc Đại Tràng HV. Kết quả cho thấy bài thuốc có khả năng giảm nhu động ruột và tái hấp thu nước, đồng thời phục hồi tổn thương đường ruột. Điều này khẳng định hiệu quả của bài thuốc trong việc điều trị hội chứng ruột kích thích.

3.2. Đánh giá dược lý

Nghiên cứu đánh giá dược lý của bài thuốc Đại Tràng HV thông qua các thử nghiệm trên động vật. Kết quả cho thấy bài thuốc có tác dụng giảm nhu động ruột và tái hấp thu nước, đồng thời phục hồi tổn thương đường ruột. Điều này mở ra hướng điều trị mới cho các bệnh nhân mắc hội chứng ruột kích thích.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ y học đánh giá tác dụng của bài thuốc đại tràng hv điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn chức năng mạn tính của hệ thống tiêu hóa [37]. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện (hoặc tiêu chảy, hoặc táo bón, hoặc cả hai) [16]. Tuy nhiên, bởi các dấu ấn sinh học chưa thực sự mạnh mẽ, hội chứng ruột kích thích vẫn được chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng [39]. Triệu chứng của hội chứng ruột kích thích khá thường gặp trong cộng đồng, tuy nhiên, biểu hiện bệnh thường dễ bị bỏ qua bởi diễn biến âm thầm và đặc biệt là bởi không nhất định cần đến một chăm sóc y tế bắt buộc [47].

Điều này dẫn đến sự khác biệt về tần suất mắc bệnh giữa cộng đồng và trong bệnh viện [41]. Tỷ lệ này tại Pháp là 1,123-4,724; Singapore là 2,336-11,037; Nhật là 6,145-14,406; Đài Loan là 17,556-22,156; Hồng Kong là 3,727-6,628 [40]. Tại Việt Nam, con số này được ghi nhận qua một số nghiên cứu là khoảng 7,2% - năm 2006 [59]; 10,3% (trên sinh viên) - năm 2016 [62]. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thảo mộc trong điều trị đang ngày càng phổ biến, đặc biệt là trong một số bệnh lý mạn tính.

Xuất phát từ nền tảng các bài thuốc cổ phương, nghiệm phương được gia giảm phù hợp với tình hình lâm sàng của từng bệnh nhân theo hướng cá thể hóa trong điều trị nhằm giảm thiếu triệu chứng lâm sàng, giải quyết một số căn nguyên và nâng cao chất lượng cuộc sống. “Hương sa lục quân” là một trong số những bài thuốc được chỉ định đầu tay trong điều trị các chứng bệnh liên quan đến tiêu hóa nói chung và rối loạn chức năng đại tràng – hay còn gọi là hội chứng ruột kích thích nói riêng đem lại hiệu quả cao. Toàn phương có tác dụng kiện tỳ ích khí, sướng trung, điều lý khí cơ, chủ trị chứng tỳ vị suy yếu, đau bụng lâm râm. Dựa trên nền tảng đó, nhóm nghiên cứu xây dựng “Đại tràng - HV” với thành phần là “Hương sa lục quân” gia thêm bạch thược 20gam (dưỡng huyết, chỉ thống và 2 thần khúc 12gam (tiêu thực hòa vị) [10] giúp hỗ trợ tăng tác dụng của “Hương sa lục quân” trong điều trị hội chứng ruột kích thích trên lâm sàng.

Để có cơ sở khoa học cho bài thuốc “Đại tràng - HV”, bên cạnh việc xác định độc tính cấp theo quy định chung của Bộ Y tế trong việc sử dụng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đảm bảo an toàn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Đại tràng - HV” điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá tác dụng giảm nhu động ruột, tái hấp thu nước và các ion của bài thuốc “Đại tràng - HV” trên động vật thực nghiệm. Đánh giá tác dụng phục hồi tổn thương hội chứng ruột kích thích trên động vật thực nghiệm. 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Tổng quan về hội chứng ruột kích thích 1. Theo y học hiện đại 1. Khái niệm Hội chứng ruột kích thích là một hội chứng bệnh lý được biểu hiện bằng đau bụng và rối loạn phân, thường không kèm tổn thương thực thể tại đại tràng [8]. Các biểu hiện đi kèm là đi ngoài nhiều lần trong ngày, trướng bụng, đầy hơi… [7] nguyên nhân do tình trạng rối loạn vận động đại tràng (tăng hoặc giảm) dẫn đến tiêu chảy/táo bón hoặc đại tràng quá mẫn cảm.

Bệnh có liên quan chặt chẽ đến trạng thái tinh thần (bệnh tâm thể). Sinh lý đại tràng Các vận động ở đại tràng bao gồm co bóp phân đoạn và các sóng nhu động [7]: Co bóp phân đoạn giúp cho thức ăn được nhào trộn và tiếp xúc với niêm mạc đại tràng để làm tăng hấp thu. Co bóp này xảy ra chậm, không đều, là sự co thắt giúp cho thức ăn lưu lại trọng đại tràng để tiêu hóa và hấp thu nước. Các sóng nhu động đẩy thức ăn về phía trực tràng.

Nó theo tuần tự từ trên xuống dưới, phụ thuộc vào: chất lượng thức ăn, yếu tố thần kinh và thể dịch. Đại tràng phải nhu động yếu, càng sang trái nhu động càng mạnh lên để tống phân xuống trực tràng. Đôi khi cũng có những sóng phản nhu động nhưng yếu. Ngoài ra, đại tràng còn có một loại co bóp đặc biệt là co bóp khối diễn ra như sau: Ở đoạn đại tràng ngang đang bị căng ra, một co bóp vòng xuất hiện làm chất phân ở đoạn ruột phía dưới bị ép lại thành khối.

Co bóp mạnh dần lên trong khoảng 30 giây rồi ruột giãn ra trong 2-3 phút và một co bóp 4 khối khác lại xuất hiện ở đoạn ruột xa hơn, chuỗi vận động này chỉ tồn tại trong nửa giờ, rồi nửa ngày hay một ngày sau lại xuất hiện. Khi những co bóp khối đẩy khối phân trực tràng, gây cảm giác muốn đại tiện do sự co phản xạ của trực tràng và giãn cơ thắt hậu môn. Phân loại Tiêu chuẩn Rome IV phân loại hội chứng ruột kích thích như sau [37]: - IBS-D (tiêu chảy chiếm ưu thế): Phân lỏng chiếm hơn 25% thời gian và phân cứng dưới 25% thời gian. - IBS-C (táo bón chiếm ưu thế): Phân cứng chiếm hơn 25% thời gian và phân lỏng ít hơn 25% thời gian.

- IBS-M (phân hỗn hợp): Cả phân cứng và lỏng chiếm hơn 25% thời gian. - IBS-U: Bệnh nhân đáp ứng tiêu chí chẩn đoán cho hội chứng ruột kích thích nhưng triệu chứng cơ năng ruột không thể được phân loại chính xác ở bất kỳ phân nhóm nào ở trên. Thang điểm Bristol đánh giá tính chất phân [39] 1. Cơ chế bệnh sinh Tăng nhận cảm nội tạng Tăng cảm giác đau tạng do kích thích các receptor cơ học.

Cảm thụ nội tạng được thực hiện thông qua sự hoạt hoá của đường thần kinh hướng tâm gây ra do những kích thích tác động vào những thụ cảm thể hoá học trên niêm mạc, vào thụ cảm thể cơ học của cơ trơn và vào thụ cảm thể cảm giác của mạc treo ruột [41]. Rối loạn vận động bất thường của ruột Các rối loạn bất thường của ruột có thể xảy ra ở các đoạn khác nhau của ruột khi đói hoặc sau khi ăn. Ở bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích, sự đáp ứng của đại tràng với thức ăn thay đổi tuỳ theo thể bệnh nhưng thường là đáp ứng thái quá và kéo dài [53]. 6 - Vận chuyển nhanh ở ruột non làm giảm sự hấp thu ở niêm mạc và gây đại tiện lỏng.

Vận chuyển chậm làm tăng hấp thu nước gây táo bón do đó tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển và cũng gây tiêu chảy. - Tốc độ của nhu động đẩy trong lòng ruột không tỷ lệ thuận với sự co cơ tại chỗ (co thắt đoạn). Ở những bệnh nhân bị táo bón, co thắt đoạn quá nhiều trong khi nhu động đẩy kém nên giảm khả năng đẩy phân xuống dưới và ra ngoài. Trong trường hợp đại tiện lỏng thì ngược lại, giảm co thắt đoạn và tăng nhu động đẩy [53].

Thay đổi sự chịu đựng của ruột, một số đoạn ruột giảm khả năng chịu áp lực của khối thức ăn Sự gia tăng quá mức phản ứng ống tiêu hóa với các stress tâm lý (lo, buồn bực, trầm cảm, căng thẳng.), không dung nạp bẩm sinh với một số thức ăn, những viêm nhiễm tiêu hoá trong tiền sử cũng đóng một vai trò nhất định trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng ruột kích thích [47]. Theo y học cổ truyền 1. Bệnh danh Thuộc phạm vi chứng Tiết tả [6], táo kết của Y học cổ truyền [13]. - Tiết tả là thứ bệnh đi đại tiện nhiều lần, phân loãng; nặng thì đi tả nước.

Người xưa lấy chứng phân lỏng, thể không gấp là tiết (đẩy từ trong ra) [33],[32]; phân loãng như nước dốc xuống là tả. Nội kinh đã chia ra 5 chứng tiết: Cam tiết (đi sột sệt), đường tiết (đại tiện lỏng), hư tiết (đại tiện như cứt cò), nhu tiết và sáp tiết (đại tiện ra thức ăn chưa tiêu là có thấp kiêm có phong) [24]. - Táo kết do nhiều nguyên nhân gây ra: Âm hư, huyết nhiệt, huyết hư, khí hư và khí trệ [23]. Bệnh nguyên bệnh cơ Bệnh chủ yếu liên quan đến sự rối loạn và suy giảm công năng của ba tạng Can, Tỳ, Thận [11],[12].

- Tỳ và Vị: Vị có công năng là thu nạp đồ ăn thức uống và tiêu hóa chung dưới sự điều hành của tạng Tỳ, phân bố tinh khí về cho các tạng (ở đây sự vận hóa tinh khí của thủy cốc phải theo hướng Tỳ chủ thăng Vị chủ giáng) [22]. - Tỳ và Can (tương khắc): Vì một lý do nào đó Can vượng lên hoặc Tỳ suy yếu thì sẽ sinh ra Can Tỳ bất hòa mà sinh bệnh [22]. - Tỳ và Thận (tương khắc): Tỳ hư thủy thấp sẽ đình đọng gây tiêu chảy, phù nề, bụng trướng [22]. - Thấp tà hại Tỳ khiến công năng vận hóa bị trở ngại, thủy thấp tràn xuống dưới, thanh trọc bất phân, thăng phát thất thường sinh tiết tả [23].

Tổng quan về thuốc điều trị hội chứng ruột kích thích 1. Thuốc y học hiện đại 1. Thuốc chống co thắt - Kháng cholinergic: Là thuốc có tác dụng đối kháng với acetylcholine. Atropin ít tác dụng với nhu động ruột bình thường, nhưng làm giảm nhu động khi ruột co thắt và tăng nhu động [41].

- Chống co thắt hướng cơ trơn: Mebeverine (Duspatalin) dẫn xuất từ papaverine, có tác dụng chống co thắt cơ trơn nhưng không làm giảm trương lực cơ, thuốc có tác dụng bình thường hoá các vận động của ruột (táo, lỏng) và bình thường hoá sự tăng nhạy cảm của ruột [3]. Thuốc điều hoà chức năng vận động đường tiêu hoá - Trimebutin (Debridat): Đây là thuốc tác dụng trên hệ enkephalinergic bằng cách kích thích các thể cảm thụ thể enkephalinergic ở ruột khi có rối loạn nhu động ruột [3]. Thuốc chống trầm cảm (amitriptyline, imipramine, desipramin…) - Những thuốc này được sử dụng cho bệnh nhân mắc hội chứng ruột kích thích, đặc biệt là những người có triệu chứng nặng hoặc kéo dài, thường lo lắng và trầm cảm [3],[43]. Thuốc kháng thụ thể 5-HT3 - Có tác dụng làm giảm trương lực cơ ruột sau khi ăn nên có tác dụng giảm triệu chứng đau bụng và khó chịu ở bụng.

- Kháng 5-HT3 được dùng điều trị hội chứng ruột kích thích có đau và tiêu chảy chiếm ưu thế ở nữ giới [3]. Thuốc chống tiêu chảy - Các chất hấp phụ, bao phủ niêm mạc ruột (Smecta) với cấu trúc từng lớp và độ nhầy cao, có khả năng bao phủ niêm mạc tiêu hóa rất lớn. Thuốc tương tác với glycoprotein của chất nhầy làm tăng sức chịu đựng của lớp gel dính trên niêm mạc khi bị tấn công.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ y học: Đánh giá hiệu quả bài thuốc Đại Tràng HV điều trị hội chứng ruột kích thích trên động vật là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả của bài thuốc Đại Tràng HV trong việc điều trị hội chứng ruột kích thích (IBS) trên mô hình động vật. Nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng khoa học quan trọng về khả năng giảm triệu chứng và cải thiện chức năng ruột, mở ra hướng điều trị tiềm năng cho bệnh nhân IBS. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và những người quan tâm đến y học cổ truyền và bệnh lý tiêu hóa.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu y học liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, hoặc Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021. Ngoài ra, Khảo sát nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2023 cũng là một tài liệu thú vị để hiểu thêm về thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị bệnh.