Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm của lực lượng cảnh sát kinh tế. Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm của phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Hà Nội. 6 e Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm của phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Hà Nội. 7 e Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BUÔN LẬU VÀ BUÔN BÁN HÀNG CẤM CỦA LỰC LƢỢNG CẢNH SÁT KINH TẾ 1.
Vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm 1. Khái niệm vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm Khi đề cập đến pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thì một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt hành chính. Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm hành chính được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành vi vi phạm hành chính mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
“Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, vi phạm hành chính thường được hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính do những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành mà không phải là cơ quan Tòa án với các thủ tục tư pháp. Trước khi Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi cảnh”. Khái niệm này chính thức được sử dụng trong “Điều lệ xử phạt vi cảnh” ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27/5/1977. Theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì tất cả những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh.
Cũng theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì có 04 hình thức xử phạt vi cảnh, đó là: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ 01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày. Bên cạnh đó, Điều lệ xử phạt vi 8 e cảnh cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tuỳ theo tính chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền cho cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thuỷ sản, Thương nghiệp, Y tế, Giao thông vận tải. trong khi thừa hành công vụ ngoài lực lượng cán bộ, chiến sĩ Công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt mà Điều lệ xử phạt vi cảnh quy định. Về sau, trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành, khái niệm “vi cảnh” được hiểu rộng hơn, không chỉ là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”[34].
Điều 2 của Điều lệ về phạt vi cảnh nói trên định nghĩa: “những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh”[31]. Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hành chính. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định”[25, Điều 3]. Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”[31, Điều 1].
Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 9 e năm 2002 và sau đó là Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa “lẩn” vào trong khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, cụ thể tại Khoản 1, Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”[23, Điều 2]. Thuật ngữ “ Buôn lậu” là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá hoặc ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm có giá trị lịch sử, văn hoá, mà nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hoá nói chung qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của hải quan. “Buôn bán hàng cấm” là hành vi mua đi, bán lại hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam dưới bất kì hình thức nào nhằm mục đích thu lợi.
Vậy ta có thể đưa ra khái niệm cho vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm như sau: Vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về phòng chống buôn lậu và buôn bán hàng cấm mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Đặc điểm của vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm Thứ nhất, hành vi vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm phải là hành vi có lỗi. Thứ hai, vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước phòng chống buôn lậu và buôn bán hàng cấm; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và 10 e hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Thứ ba, hành vi vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Các loại vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm Các loại vi phạm hành chính về buôn lậu và buôn bán hàng cấm bao gồm: - Hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu Quy định tại khoản 7 điều 3 và điều 17 Nghị định 185/2013/NĐ-CP; tại khoản 14,15,16 Nghị định 124/2015/NĐ-CP. Trong đó quy định kinh doanh “Hàng hóa nhập lậu” bao gồm: “a) Hàng hóa cấm nhập khẩu hoặc tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật; b) Hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu có điều kiện mà không có giấy phép nhập khẩu hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định kèm theo hàng hóa khi lưu thông trên thị trường; c) Hàng hóa nhập khẩu không đi qua cửa khẩu quy định, không làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật hoặc gian lận số lượng, chủng loại hàng hóa khi làm thủ tục hải quan; d) Hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường không có hóa đơn, chứng từ kèm theo theo quy định của pháp luật hoặc có hóa đơn, chứng từ nhưng hóa đơn, chứng từ là không hợp pháp theo quy định của pháp luật về quản lý hóa đơn; đ) Hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật phải dán tem nhập khẩu nhưng không có tem dán vào hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc có tem dán nhưng là tem giả, tem đã qua sử dụng”[14, Điều 3] - Hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm. Quy định tại khoản 6 điều 3 và điều 10 của Nghị định 185/2013/NĐ-CP; tại khoản 9 điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP; Phụ lục I Nghị định 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó quy định về hành vi sản xuất, 11 e buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam.
- Hành vi vi phạm về buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu Quy định tại điều 25 Nghị định 185/2013/NĐ-CP và khoản 22 điều Nghị định 124/2015/NĐ-CP. Trong đó quy định về vi phạm buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận riêng biệt một loại hàng cấm đó là thuốc lá điếu, về quy cách đóng gói cũng như số lượng tương ứng với một bao thuốc lá “1 bao = 20 điếu, đối với các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu được quy đổi 20g = 1 bao”[14, Điều 25]. - Hành vi vi phạm về kinh doanh nguyên liệu thuốc lá nhập lậu Quy định tại điều 25 Nghị định 185/2013/NĐ-CP và khoản 23, 24 Nghị định 124/2015/NĐ-CP.