Luận văn thạc sĩ cuộc vận động xây dựng nông thôn mới huyện nông cống tỉnh thanh hoá 20092013

"Luận văn thạc sĩ về cuộc vận động xây dựng nông thôn mới tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2009-2013, phân tích hiệu quả và bài học kinh nghiệm."

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận Văn Thạc Sĩ này tập trung vào quá trình Xây Dựng Nông Thôn Mới tại Huyện Nông Cống, Thanh Hóa giai đoạn 2009-2013. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của Chương trình Nông Thôn Mới trong việc thúc đẩy Phát Triển Nông Thôn và cải thiện đời sống người dân. Huyện Nông Cống là một địa bàn thuần nông với gần 90% dân số làm nông nghiệp, nơi đây đã trải qua nhiều thay đổi tích cực nhờ các Chính Sách Phát Triển của Đảng và Nhà nước.

1.1. Lý do chọn đề tài

Nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Chương trình Nông Thôn Mới được xem là một chủ trương chiến lược nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị lần 7 BCH Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Huyện Nông Cống là một trong những địa phương tiêu biểu trong việc thực hiện chương trình này, với nhiều thành tựu đáng ghi nhận.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá quá trình thực hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới tại Huyện Nông Cống, từ đó rút ra những Kinh Nghiệm Thực Tiễn và đề xuất giải pháp để tiếp tục phát triển bền vững. Nghiên cứu cũng tập trung vào việc Đánh Giá Hiệu Quả của các chính sách và chương trình đã được triển khai.

II. Khái quát về Huyện Nông Cống

Huyện Nông Cống nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa, là một địa bàn thuần nông với đặc điểm kinh tế - xã hội đặc thù. Trước khi triển khai Chương trình Nông Thôn Mới, huyện đã có những bước phát triển nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng và đời sống người dân.

2.1. Đặc điểm kinh tế

Kinh tế của Huyện Nông Cống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với các sản phẩm chính như lúa, ngô và các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên, năng suất và hiệu quả kinh tế còn thấp do thiếu đầu tư vào công nghệ và kỹ thuật canh tác.

2.2. Đặc điểm xã hội

Xã hội tại Huyện Nông Cống có nhiều đặc điểm truyền thống, với cộng đồng dân cư gắn bó chặt chẽ. Tuy nhiên, trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các vùng nông thôn sâu.

III. Quá trình thực hiện Chương trình Nông Thôn Mới

Từ năm 2009-2013, Huyện Nông Cống đã triển khai Chương trình Nông Thôn Mới với sự tham gia tích cực của các cấp chính quyền và người dân. Chương trình tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao thu nhập và đời sống người dân.

3.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước

Chương trình được triển khai dựa trên các chủ trương của Đảng và Nhà nước, với mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí quốc gia. Huyện Nông Cống đã nhanh chóng áp dụng và triển khai các chính sách này một cách hiệu quả.

3.2. Kết quả đạt được

Sau 5 năm thực hiện, Huyện Nông Cống đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, bao gồm việc nâng cao thu nhập người dân, cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới. Đến năm 2013, toàn huyện đã có 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

IV. Đánh giá hiệu quả và bài học kinh nghiệm

Nghiên cứu đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện Chương trình Nông Thôn Mới tại Huyện Nông Cống. Những Kinh Nghiệm Thực Tiễn rút ra từ nghiên cứu này có thể áp dụng cho các địa phương khác trong cả nước.

4.1. Thành tựu

Chương trình đã giúp cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tăng cường cơ sở hạ tầng và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Huyện Nông Cống đã trở thành một điển hình trong việc thực hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới.

4.2. Hạn chế và bài học kinh nghiệm

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, chương trình vẫn còn một số hạn chế như thiếu nguồn lực tài chính và sự tham gia chưa đồng đều của người dân. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để khắc phục những hạn chế này và tiếp tục phát triển bền vững.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN NÔNG CỐNG TRƯỚC CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 1. Vị trí địa lí Huyện Nông Cống nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa. Về phía bắc, huyện Nông Công giáp các huyện Đông Sơn và Triệu Sơn; phía nam giáp các huyện Như Thanh và Tĩnh Gia; phía đông giáp các huyện Tĩnh Gia và Quảng Xương; phía tây giáp huyện Như Thanh.

Từ thành phố Thanh Hóa đi theo Quốc lộ 45 về phía tây - nam dài 28 km là huyện lị Nông Cống - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả huyện thuộc vùng châu thổ giàu tiềm năng và truyền thống cách mạng. Toàn huyện có 33 đơn vị hành chính (31 xã và 2 thị trấn). Tổng diện tích tự nhiên là 28. Trong đó, đất nông nghiệp 14.340 ha, đất lâm nghiệp 777 ha, đất chuyên dùng 3.004 ha, đất chưa sử dụng 8.

Điều kiện tự nhiên Nông Cống là một huyện đồng bằng, nhưng địa hình khá đa dạng: Vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với độ chênh cao tương đối lớn. Địa hình cũng bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi tự nhiên. Có thể chia thành 2 vùng: - Vùng có địa hình đồi núi, diện tích khoảng 7.500 ha, thuộc phía Tây Bắc huyện gồm 26 xã: Tế Lợi, Tế Thắng, Trường Sơn, Trường Trung, Trường Minh, Trung Chính, Trung Ý, Trung Thành, Hoàng Giang, Hoàng Sơn, Vạn Thiện, Vạn Hòa, Vạn Thắng, Minh Thọ, Minh Nghĩa, Tân Phúc, Tân Thọ, Tân Khang, Công Chính, Công Liêm, Công Bình, Thăng Bình, Thăng Long, Thăng Thọ, Tượng Văn, Tượng Lĩnh. Cây trồng chủ yếu là cà phê, chè, cây ăn quả, cây công nghiệp mía đường.

Do địa hình đồi núi, lại lắm khe, suối, mỗi khi 11 mưa to, nước từ núi Nưa trút xuống các khe suối và sông Yên, nhưng lại thoát nước chậm nên đã gây ra nạn úng lụt, ảnh hướng tới sản xuất và đời sống. - Vùng đồng bằng châu thổ Nông Cống khá rộng lớn, có diện tích 21.210 ha, chiếm 74% diện tích tự nhiên toàn huyện; nổi lên nhiều núi đá vôi nhỏ, đồi gò thấp xen kẽ những vùng thấp, lầy thụt. Năm xã không có đồi núi là Tế Nông, Tế Tân, Trường Giang, Minh Khôi và thị trấn Nông Cống. Do địa hình đồng bằng, có phù sa sông bồi đắp nên vùng này thích hợp cho việc trồng các loại cây lương thực và hoa màu.

Như vậy, địa hình đa dạng (đồi núi, đồng bằng và những vùng trũng lầy.) đã tạo ra một vùng châu thổ giàu tiềm năng cho phép phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp đa dạng, nhưng cũng gây ra những khó khăn, cách trở, bất cập trong quá trình tổ chức sản xuất. Nghề trồng trọt chủ yếu là cây lúa. Nghề chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình, chủ yếu là chăn nuôi lợn, gia cầm, nuôi trồng thủy sản cá nước ngọt và nước lợ. Nông Cống nằm trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng (Ia), có các đặc trưng sau: Tổng nhiệt độ trung bình năm: 8.600ºC; biên độ năm 11-12ºC; biên độ ngày 6-7ºC.

Lượng mưa trung bình hằng năm 1. Tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, xấp xỉ 400 mm. Độ ẩm không khí trung bình hằng năm 85 - 86%. Lượng nước bốc hơi trung bình khoảng 854 mm.

Tốc độ gió trung bình hằng năm 1,5 - 1,8 m/s. Thiên tai thường xảy ra bão, lũ, úng, hạn cục bộ. Nông Cống là địa bàn chịu ảnh hướng của hệ thống sông Yên, ảnh hưởng trực tiếp của các con sông: Sông Nhơm, Sông Mực, Sông Thị Long. Sông Yên có chế độ bán nhật triều, vào những ngày triều cường trong mùa cạn nước mặn có thể xâm nhập vào tận cầu Chuối.

12 BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN NÔNG CỐNG CỐ 13 Chế độ thủy văn chia thành 2 vùng: - Vùng thủy văn đồi núi: Mùa đông khô hanh, gió rét; mùa mưa thường có lũ quét nhỏ xảy ra, gây xói mòn ở vùng cao và lũ lụt vùng thấp. - Vùng thủy văn đồng bằng: Chịu ảnh hưởng trực tiếp của con sông Nhơm, sông Thị Long và sông Chuối. Thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều nên đồng ruộng ven sông thuộc các xã khu vực phía Đông huyện bị nhiễm mặn, tập trung ở các xã Trường Giang, Tượng Văn, Tượng Lĩnh, Tượng Sơn, Trường Trung, Trường Minh, Minh Khôi, Tế Nông… khoảng 470 ha. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên * Tài nguyên đất: Đất đai được hình thành từ 2 dạng: Dạng địa thành, tức đá mẹ phong hóa tại chỗ lâu đời mà thành; Dạng thủy thành là do nước sông đem phù sa bồi đắp lâu dài mà thành.

Đất đai Nông Cống bao gồm các loại: Phù sa không được bồi hằng năm, đất mặn ít và nhóm đất đồi núi. Trong quá trình canh tác, đất cũng được biến đổi thành nhiều loại nhỏ. Nhìn chung đất đai của Nông Cống phù hợp với các loại cây trồng nông nghiệp hằng năm, lâu năm, tạo điều kiện để phát triển nền nông nghiệp đa canh. Đáng chú ý là đất phù sa toàn huyện có 15.540 ha, gồm các loại: Phù sa bão hòa bazơ (Fle-a), nằm ngoài đê các con sông, thuộc các xã: Tân Thọ, Tân Khang, Tế Tân, Tế Thắng, Hoàng Giang, Tế Nông, Minh Khôi, Thăng Thọ, Trường Minh; phù sa bão hòa Bazơ kết vón nông (Fle-fel) nằm dọc theo sông hoặc các dải đất cao trong đồng bằng; phù sa glây (đất chua và ít chua, thích nghi trồng lúa nước nhưng cần dùng vôi để cải tạo độ chua của đất), bão hòa bazơ (FLg-e) có hàm lượng mùn và đạm giàu, lân và kali nghèo, thuộc các xã: Thăng Bình, Trường Minh, Trường Giang, Tượng Văn.

* Tài nguyên nước: Gồm có nước mặt và nước ngầm. Nguồn nước mặt của huyện Nông Cống khá dồi dào vì có hệ thống sông 14 suối tự nhiên cùng với các hồ chứa nước, các kênh tưới; lượng mưa lại lớn. Hằng năm, tổng lượng nước do dòng chảy sông ngòi cung cấp trung bình 1 tỉ mét khối, trong đó nước do mưa sinh ra trên địa phận trên dưới 400 triệu mét khối, nếu được điều tiết có thể thỏa mãn nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống. Việc khai thác nước mặt còn gặp nhiều khó khăn do nguồn nước phân bố không đều giữa các mùa trong năm và các vùng trong huyện.

Muốn khai thác có hiệu quả phải đầu tư mở rộng và xây dựng các hồ đập, ao đầm. để chứa nước kết hợp với nuôi cá nước ngọt. Theo tài liệu của Trạm Dự báo và Khí tượng Thủy văn Thanh Hóa (tháng 2/1998), nguồn nước ngầm ở huyện Nông Cống nằm trong dải nước ngầm của đồng bằng Thanh Hóa với địa chất là trầm tích hệ thứ 4 có bề dày trung bình 60 m. Chất lượng nước ngầm chưa bị ô nhiễm.

Có thể khẳng định, nguồn tài nguyên nước huyện Nông Cống có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn. * Tài nguyên rừng Nông Cống có 2.081,57 ha rừng, chiếm 7,26% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó rừng sản xuất có 823,80 ha, chiếm 2,88% tổng diện tích tự nhiên; đất rừng phòng hộ có 1.257,77 ha, chiếm 4,39% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. * Tài nguyên khoáng sản Theo tài liệu báo cáo hiện trạng sản xuất công nghiệp, tài nguyên khoáng sản năm 1998 của Sở Công nghiệp Thanh Hóa, huyện Nông Cống có Than bùn, phốt pho rít, secpentin, mỏ đá vôi, mỏ sét, phụ gia xi măng, quặng Bazan Crom mit… Tuy trữ lượng không nhiều, nhưng những nguồn khoáng sản này nếu được khai thác tốt sẽ góp phần đáng kể vào việc phát triển sản xuất và tăng nguồn thu nhập của huyện. 15 Tóm lại, “đất đai, sông ngòi, đồi núi, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên ở Nông Cống đã kết hợp và tạo nên một vùng quê giàu tiềm năng kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, du lịch” [2, Tr.

Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Nông Cống 1. Đặc điểm kinh tế Trong không khí tưng bừng, phấn khởi sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng bộ, nhân dân Nông Cống bắt tay vào công cuộc tái thiết quê hương. Từ tình trạng kiệt quệ sau chiến tranh, sản xuất nông nghiệp mất mùa, năng suất thấp, đời sống nhân dân khó khăn, nền kinh tế huyện Nông Cống từng bước ổn định và phát triển toàn diện, đem lại những giá trị mới. Năm 1976 là năm được mùa nhất so với những năm trước đó, với tổng sản lượng lương thực trên địa bàn huyện đạt 44.

Từ sau khi có Chỉ thị 100 CT/TW (13/1/1981) của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển mạnh hơn trước. Sản lượng lương thực năm 1985 đạt 53. Bình quân lương thực đầu người năm 1981 là 264kg, đến năm 1985 tăng lên 365kg. Do sản xuất phát triển, nên kết quả làm nghĩa vụ lương thực của huyện đối với Nhà nước ngày càng tăng, từ 5.

Các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có những bước chuyển biến mới, với năng suất lao động cao không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân, mà còn mang lại giá trị xuất khẩu lớn. Năm 1985, giá trị xuất khẩu các mặt hàng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện đạt 2,3 triệu đồng, tăng gấp 21 lần so với năm 1985 [2, tr. Tuy đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhưng sau 10 năm, đến năm 1985, nền kinh tế ở huyện Nông Cống vẫn trong tình trạng kém phát triển, bị trói 16 buộc bởi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; tốc độ tăng trưởng không đáp ứng yêu cầu xã hội. Đời sống nhân dân khó khăn, thiếu thốn.

Từ năm 1986, vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh địa phương, huyện Nông Cống từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức; các thành phần kinh tế được khuyến khích đầu tư phát triển, xóa đói, giảm nghèo, đẩy lùi khủng hoảng kinh tế, tạo ra những điều kiện vật chất tái sản xuất mở rộng. Từ một nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, năng suất, sản lượng thấp, sau 10 năm đổi mới đã tạo ra sản lượng lương thực tăng gấp hai lần; riêng năm 1995 đạt 78. An ninh lương thực trên địa bàn được giải quyết vững chắc. Chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa và tạo ra giá trị mới tăng gấp nhiều lần thời kì bao cấp.

Năm 1995, đàn bò tăng 9,5%, đàn lợn tăng 91% so với năm 1985. Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ không ngừng tăng, làm thay đổi tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Xây Dựng Nông Thôn Mới Huyện Nông Cống, Thanh Hóa (2009-2013)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển nông thôn mới tại huyện Nông Cống, Thanh Hóa trong giai đoạn 2009-2013. Tài liệu này không chỉ phân tích các chính sách và chương trình đã được triển khai, mà còn đánh giá tác động của chúng đến đời sống người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các mô hình phát triển bền vững, cũng như những thách thức và giải pháp trong việc xây dựng nông thôn mới.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Khoá luận tốt nghiệp đánh giá khả năng thích ứng của nông hộ trồng lúa dưới tác động của hạn hán tại xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nơi nghiên cứu khả năng thích ứng của nông dân trước biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường nghiên cứu giải pháp bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển nông thôn. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động trồng trọt tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan.