Luận văn: Quản lý Nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới tại Cư Kuin, Đắk Lắk

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại Cư Kuin, Đắk Lắk. Nghiên cứu giải pháp và thực trạng phát triển nông thôn mới.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2021

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.5.1. Phương pháp luận

0.5.2. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương trong nước và những bài học rút ra

1.5. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

2.1. Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

2.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

2.3. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

3.1. Quan điểm và mục tiêu về xây dựng nông thôn mới

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

3.3. Tiểu kết chương 3

3.4. Khuyến nghị đối với Trung ương và địa phương

3.4.1. Đối với Trung ương

3.4.2. Đối với tỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận văn Thạc sĩ Khám phá Xây dựng Nông thôn mới Đắk Lắk

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy sự phát triển toàn diện khu vực nông thôn Việt Nam. Đặc biệt, tại tỉnh Đắk Lắk, một vùng đất có vị trí chiến lược và tiềm năng nông nghiệp lớn, việc triển khai Chương trình NTM Đắk Lắk có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Viết Hưng (2021) tập trung nghiên cứu NTM Đắk Lắk, đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới tại huyện Cư Kuin. Công trình này không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận mà còn phân tích NTM Đắk Lắk dựa trên thực tiễn địa phương.

Việc phát triển nông thôn Đắk Lắk thông qua Xây dựng Nông thôn mới là một chiến lược dài hạn, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Đại hội XII và XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tục khẳng định tầm quan trọng của việc cơ cấu lại nông nghiệp gắn với Xây dựng Nông thôn mới. Tại Đắk Lắk, địa phương này đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc Xây dựng Nông thôn mới, thể hiện qua sự thay đổi bộ mặt nông thôn và cải thiện các tiêu chí NTM Đắk Lắk. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, việc triển khai Chương trình NTM Đắk Lắk vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức NTM Đắk Lắk, đặc biệt là về nguồn lực và cơ chế quản lý. Nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng, kinh nghiệm từ các địa phương tương đồng và đề xuất giải pháp NTM Đắk Lắk là cần thiết để phát triển bền vững Đắk Lắk.

Luận văn của Nguyễn Viết Hưng được thực hiện với mong muốn góp phần giải quyết các vấn đề này, cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng NTM Đắk Lắk ở cấp huyện, từ đó đưa ra các đề xuất NTM Đắk Lắk mang tính khả thi. Việc đánh giá NTM Đắk Lắkhiệu quả NTM Đắk Lắk thông qua nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách và những người quan tâm đến lĩnh vực Xây dựng Nông thôn mới không chỉ riêng tại Đắk Lắk mà còn cho các địa phương khác trong cả nước. Công trình nghiên cứu này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, xem đây là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chương trình.

Mô hình NTM Đắk Lắk thành công đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng. Luận văn đi sâu vào phân tích các hoạt động cụ thể của quản lý nhà nước, bao gồm việc xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy, và công tác cán bộ. Việc nâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk không chỉ dừng lại ở cải thiện hạ tầng mà còn là nâng cao năng lực sản xuất, tiếp cận thị trường và phát triển các giá trị văn hóa xã hội. Tóm lại, Luận văn Thạc sĩ NTM này là một nỗ lực khoa học nhằm đóng góp vào việc thúc đẩy Xây dựng Nông thôn mới Đắk Lắk đi vào chiều sâu và bền vững.

1.1. Bối cảnh Tầm quan trọng của Chương trình NTM Đắk Lắk

Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với tỷ lệ dân số nông thôn còn cao, đời sống còn nhiều khó khăn. Chương trình NTM Đắk Lắk được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm để cải thiện tình hình này. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Huyện Cư Kuin, với vị trí thuận lợi và diện tích tự nhiên 28.830 ha, có 08 xã và 113 thôn, buôn, là một điển hình cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về bộ mặt nông thôn sau khi triển khai chương trình. Đến năm 2020, huyện đã đạt 135/152 tiêu chí, với 02 xã đạt chuẩn NTM. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc thực hiện hiệu quả Chương trình NTM Đắk Lắk không chỉ về kinh tế mà còn về văn hóa xã hội, góp phần nâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk.

1.2. Mục tiêu và Đối tượng Nghiên cứu NTM Đắk Lắk trong luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu lý luận quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới, đồng thời phân tích thực trạng NTM Đắk Lắk tại huyện Cư Kuin để đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận, tìm hiểu kinh nghiệm NTM Đắk Lắk từ các địa phương tương đồng, đánh giá NTM Đắk Lắk về kết quả, hạn chế và nguyên nhân, cuối cùng đề xuất NTM Đắk Lắk và phương hướng quản lý nhà nước. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới Đắk Lắk tại huyện Cư Kuin, tập trung vào giai đoạn 2016-2020. Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu như thống kê, thu thập thông tin, kế thừa và so sánh để đảm bảo tính khách quan và khoa học.

II. Thực trạng Thách thức NTM Đắk Lắk Vì sao còn hạn chế

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, thực trạng NTM Đắk Lắk tại huyện Cư Kuin vẫn còn tồn tại những hạn chế và thách thức NTM Đắk Lắk cần được giải quyết. Tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Cư Kuin nói riêng đang nỗ lực đẩy mạnh phát triển nông thôn Đắk Lắk thông qua chương trình trọng điểm này. Theo số liệu từ luận văn (Nguyễn Viết Hưng, 2021), Chương trình NTM Đắk Lắk đã mang lại những thay đổi rõ rệt cho bộ mặt nông thôn, cải thiện đáng kể hạ tầng nông thôn Đắk Lắkkinh tế nông thôn Đắk Lắk. Tuy nhiên, quá trình này không phải lúc nào cũng thuận lợi, đặc biệt là khi đối mặt với các vấn đề về nguồn lực và sự đồng bộ trong triển khai.

Một trong những thách thức NTM Đắk Lắk lớn nhất là nguồn kinh phí để thực hiện chương trình còn nhiều khó khăn, chưa đảm bảo tương xứng với mục tiêu đề ra. Công tác huy động nguồn lực NTM Đắk Lắk từ ngân sách nhà nước và đặc biệt là từ các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư vào các công trình hạ tầng thiết yếu và các dự án phát triển sản xuất. Hơn nữa, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức tham gia thực hiện chương trình ở một số nơi chưa thực sự đầy đủ và sâu sắc, dẫn đến việc ban hành kế hoạch chưa sát với thực trạng NTM Đắk Lắk và thực tế địa phương. Công tác kiểm tra, giám sát cũng chưa thường xuyên, làm giảm hiệu quả NTM Đắk Lắk.

Sự hài lòng của người dân đối với việc thực hiện chương trình đôi khi còn thấp. Đây là một chỉ báo quan trọng, cho thấy cần phải có những giải pháp NTM Đắk Lắk cụ thể để tăng cường sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng. Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp tại Cư Kuin còn yếu kém, nhiều công trình đã xuống cấp cần được cải tạo. Hạ tầng giao thông, đặc biệt ở các xã vùng sâu như Cư Êwi và Ea Hu, chưa được nhựa hóa hoàn toàn, gây khó khăn cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa và tiếp cận thị trường. Tiêu chí NTM Đắk Lắk về hạ tầng ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng còn nhiều yếu kém, chưa đồng bộ. Tình trạng tranh chấp đất đai giữa các hộ nhận khoán với các công ty nông nghiệp nhà nước cũng là một vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến đầu tư và hiệu quả NTM Đắk Lắk của sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 37).

Để khắc phục những thách thức NTM Đắk Lắk này, cần có những đề xuất NTM Đắk Lắk mang tính đột phá và thực tiễn, tập trung vào việc huy động đa dạng nguồn lực NTM Đắk Lắk, nâng cao năng lực quản lý của cán bộ và tăng cường sự tham gia của người dân. Chỉ khi giải quyết được những hạn chế hiện tại, Xây dựng Nông thôn mới Đắk Lắk mới có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững Đắk Lắknâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk một cách toàn diện.

2.1. Phân tích Thực trạng NTM Đắk Lắk tại huyện Cư Kuin

Huyện Cư Kuin, Đắk Lắk đã chứng kiến những chuyển biến tích cực trong giai đoạn 2016-2020. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 9,07%, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, giảm tỷ trọng nông lâm thủy sản, tăng công nghiệp và dịch vụ. Hạ tầng nông thôn Đắk Lắk được chú trọng đầu tư, tỷ lệ tưới chủ động tăng từ 78,8% (2015) lên 85% (2020). Phong trào 'Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa' phát triển sâu rộng, tỷ lệ gia đình văn hóa, thôn/buôn văn hóa và cơ quan văn hóa đều tăng đáng kể. Toàn huyện có 100% xã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế. Đến cuối năm 2020, huyện đã có 02 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, với 01 xã đạt 19/19 tiêu chí nhưng chưa được công nhận (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 35). Tuy nhiên, xuất phát điểm thấp và nguồn lực NTM Đắk Lắk hạn chế vẫn là rào cản lớn.

2.2. Nhận diện các Thách thức NTM Đắk Lắk từ điều kiện địa phương

Cư Kuin đối mặt với nhiều thách thức NTM Đắk Lắk trong quá trình triển khai chương trình. Hệ thống thủy lợi và giao thông còn yếu kém, nhiều nơi xuống cấp hoặc chưa được nhựa hóa, đặc biệt tại các xã vùng sâu. Mạng lưới điện nông thôn cần nâng cấp. Các trạm khuyến nông, chăn nuôi thú y hoạt động cầm chừng, thiếu hiệu quả. Công nghệ chế biến, bảo quản nông sản lạc hậu ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị sản phẩm. Hạ tầng tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng tiêu chí NTM Đắk Lắk. Thu nhập của người dân ở mức thấp gây khó khăn trong việc huy động vốn. Đặc biệt, tình trạng tranh chấp đất đai với các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế nông thôn Đắk Lắk và đầu tư vào sản xuất (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 36-37).

III. Cách Quản lý Nhà nước hiệu quả Chương trình NTM Đắk Lắk

Để tối ưu hiệu quả NTM Đắk Lắk, công tác quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới đóng vai trò then chốt. Luận văn của Nguyễn Viết Hưng (2021) đã đi sâu phân tích NTM Đắk Lắk từ góc độ quản lý, chỉ ra rằng việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình cần có sự đồng bộ và quyết liệt. Các chính sách NTM Đắk Lắk phải được ban hành kịp thời, sát với thực tiễn, đồng thời phát huy được vai trò đòn bẩy trong việc huy động các nguồn lực NTM Đắk Lắk từ nhiều thành phần kinh tế.

Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin đã chủ động ban hành nhiều quyết định và kế hoạch cụ thể để triển khai Chương trình NTM Đắk Lắk giai đoạn 2016-2020. Ví dụ, Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 17/10/2017 về kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới huyện Cư Kuin, giai đoạn 2016-2020, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai. Song song đó, việc ban hành Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐND về cơ cấu nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giai đoạn 2016-2020 đã cụ thể hóa việc huy động mọi nguồn lực NTM Đắk Lắk, tạo nên một phong trào đột phá, thay đổi nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 38).

Công tác tuyên truyền cũng được huyện chú trọng, với các phong trào như 'Đắk Lắk chung tay xây dựng nông thôn mới' và các chương trình lồng ghép với Hội Liên hiệp Phụ nữ, Huyện Đoàn. Những hoạt động này đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, sự đồng tình ủng hộ trong nhân dân, giúp nâng cao nhận thức về mục tiêu và đối tượng hưởng lợi của Chương trình NTM Đắk Lắk. Nhờ đó, người dân đã tích cực đóng góp hàng nghìn ngày công lao động, tiền của và vật chất để xây dựng hạ tầng nông thôn Đắk Lắk.

Tuy nhiên, để đạt được phát triển bền vững Đắk Lắk, cần tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ. Dù đã thành lập Ban Chỉ đạo và Văn phòng Điều phối Xây dựng Nông thôn mới từ cấp huyện đến cấp xã, vẫn còn tồn tại tình trạng cán bộ kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực, thiếu cán bộ chuyên trách, ảnh hưởng đến chất lượng và tính chuyên sâu của công việc. Công tác đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm công tác Xây dựng Nông thôn mới cần được tăng cường, không chỉ về lý thuyết mà còn về kỹ năng thực tiễn để họ có thể nắm bắt và triển khai các tiêu chí NTM Đắk Lắk một cách hiệu quả nhất. Việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước là yếu tố then chốt để các giải pháp NTM Đắk Lắk đi vào thực tiễn và mang lại kết quả lâu dài.

3.1. Chính sách NTM Đắk Lắk và cơ chế triển khai kế hoạch

Việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình là trọng tâm của quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới. Huyện Cư Kuin đã quán triệt các chủ trương, nghị quyết từ Trung ương và tỉnh Đắk Lắk, ban hành các quyết định và kế hoạch cụ thể. Các văn bản này, như Quyết định số 2214/QĐ-UBND (2017) và Kế hoạch số 1316/KH-UBND (2017) về triển khai Chương trình NTM Đắk Lắk giai đoạn 2016-2020, đã tạo khung pháp lý và cơ chế hoạt động. Đặc biệt, Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐND về cơ cấu nguồn lực NTM Đắk Lắk đầu tư cơ sở hạ tầng đã phát huy vai trò đòn bẩy, huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, góp phần đáng kể vào việc cải thiện hạ tầng nông thôn Đắk Lắkkinh tế nông thôn Đắk Lắk.

3.2. Cải thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng Nông thôn mới

UBND huyện Cư Kuin đã thiết lập Ban Chỉ đạo các Chương trình Mục tiêu Quốc gia do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, cùng với Tổ giúp việc và Văn phòng Điều phối Nông thôn mới huyện. Tuy nhiên, việc bố trí cán bộ kiêm nhiệm trong các phòng ban, đặc biệt là tại phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – cơ quan thường trực, gây ra tình trạng thiếu chuyên trách (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 42). Để nâng cao hiệu quả NTM Đắk Lắk trong quản lý, cần có giải pháp NTM Đắk Lắk như bố trí cán bộ chuyên trách, tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên sâu về tiêu chí NTM Đắk Lắk và kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả giữa các cấp.

IV. Bí quyết Phát triển Bền vững Huy động Nguồn lực NTM Đắk Lắk

Việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực NTM Đắk Lắk là bí quyết cốt lõi để đạt được phát triển bền vững Đắk Lắk trong Xây dựng Nông thôn mới. Luận văn của Nguyễn Viết Hưng (2021) chỉ ra rằng, ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, việc đa dạng hóa các kênh huy động nguồn lực NTM Đắk Lắk từ cộng đồng và doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng. Các giải pháp NTM Đắk Lắk cần tập trung vào việc tạo cơ chế khuyến khích, phát huy vai trò chủ thể của người dân và doanh nghiệp trong quá trình này.

Một trong những bài học kinh nghiệm từ huyện Ea H'leo, Đắk Lắk là đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, tạo không khí sôi nổi, đồng thuận trong Xây dựng Nông thôn mới. Việc phát động phong trào thi đua 'cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới' đã phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sức lan tỏa nhanh và huy động được nhiều nguồn lực NTM Đắk Lắk (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 28). Tương tự, huyện Ea Kar cũng nhấn mạnh sự quan tâm chỉ đạo đồng bộ của cấp ủy đảng, chính quyền và việc huy động sức mạnh toàn dân. Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất cần tập trung vào các cây, con chủ lực, thế mạnh của địa phương, tránh phân bổ dàn trải, kém hiệu quả.

Để nâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk, cần chú trọng phát triển kinh tế nông thôn Đắk Lắk một cách bền vững. Điều này bao gồm việc cải thiện hạ tầng nông thôn Đắk Lắk như thủy lợi, giao thông, điện, và nâng cấp công nghệ chế biến, bảo quản nông sản. Việc khuyến khích kinh tế trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và các mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị sẽ giúp tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời, cần có những giải pháp NTM Đắk Lắk để giải quyết các vấn đề tồn đọng như tranh chấp đất đai, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và sản xuất.

Ngoài ra, việc củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự ổn định và thu hút nguồn lực NTM Đắk Lắk. Các quyết định phải dựa trên nguyện vọng chính đáng của người dân, quán triệt sâu sắc nguyên tắc 'dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng' (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 31). Điều này không chỉ tăng cường sự đồng thuận mà còn giúp huy động tối đa nguồn lực NTM Đắk Lắk từ cộng đồng, góp phần vào phát triển bền vững Đắk LắkXây dựng Nông thôn mới Đắk Lắk toàn diện.

4.1. Giải pháp NTM Đắk Lắk trong huy động và sử dụng nguồn lực NTM Đắk Lắk

Huy động nguồn lực NTM Đắk Lắk đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo. Luận văn gợi ý cần có cơ chế, chính sách vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện từng địa phương, ưu tiên các nội dung, nhiệm vụ trọng yếu. Cần tránh việc huy động quá sức dân, thay vào đó tập trung vào các nguồn lực đa dạng như vốn ngân sách, doanh nghiệp, và đóng góp tự nguyện từ cộng đồng. Công tác hỗ trợ phát triển sản xuất cần tập trung vào các mô hình cây, con chủ lực, thế mạnh của địa phương để tối đa hóa hiệu quả NTM Đắk Lắk (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 29). Việc này giúp kinh tế nông thôn Đắk Lắk phát triển bền vững, tạo thu nhập ổn định cho người dân.

4.2. Nâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk thông qua Phát triển nông thôn Đắk Lắk

Để nâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk, phát triển nông thôn Đắk Lắk cần đồng bộ các giải pháp. Cải thiện hạ tầng nông thôn Đắk Lắk là nền tảng, nhưng quan trọng hơn là phát triển kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cần chú trọng phát triển bền vững Đắk Lắk bằng cách áp dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị nông sản. Song song đó, việc phát triển văn hóa xã hội nông thôn Đắk Lắk và bảo vệ môi trường nông thôn Đắk Lắk là không thể thiếu, tạo môi trường sống chất lượng và hài hòa cho cộng đồng. Các hoạt động tuyên truyền cần nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân trong việc tự mình xây dựng nông thôn mới, từ đó tăng cường ý thức cộng đồng và tinh thần tự lực.

V. Đánh giá Hiệu quả NTM Đắk Lắk Kinh nghiệm từ Cư Kuin

Việc đánh giá NTM Đắk Lắk một cách khách quan là cần thiết để nhìn nhận hiệu quả NTM Đắk Lắk thực sự đã đạt được, cũng như những hạn chế còn tồn tại. Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Viết Hưng (2021) đã cung cấp phân tích NTM Đắk Lắk sâu rộng về tình hình tại huyện Cư Kuin, rút ra nhiều kinh nghiệm NTM Đắk Lắk quý báu có thể áp dụng cho các địa phương khác. Các số liệu thống kê cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong hạ tầng nông thôn Đắk Lắk, kinh tế nông thôn Đắk Lắkvăn hóa xã hội nông thôn Đắk Lắk.

Kết quả thực hiện Chương trình NTM Đắk Lắk tại Cư Kuin cho thấy sự tiến bộ đáng kể về các tiêu chí NTM Đắk Lắk. Đến cuối năm 2020, huyện Cư Kuin đã đạt 135/152 tiêu chí, với 02 xã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới. Đây là thành quả của sự nỗ lực từ chính quyền và người dân. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra rằng, việc đánh giá NTM Đắk Lắk cần đi sâu hơn vào chất lượng các tiêu chí đạt được, chứ không chỉ dừng lại ở số lượng. Một số tiêu chí, đặc biệt liên quan đến thu nhập bền vững và môi trường nông thôn Đắk Lắk, vẫn cần nhiều nỗ lực hơn.

Kinh nghiệm NTM Đắk Lắk từ các huyện khác như Ea H'leo và Ea Kar đã được phân tích để rút ra bài học cho Cư Kuin. Huyện Ea H'leo đặc biệt thành công trong công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận và huy động nguồn lực NTM Đắk Lắk từ cộng đồng. Huyện Ea Kar tập trung vào hỗ trợ phát triển sản xuất cây, con chủ lực và triển khai cơ chế chính sách đồng bộ trong đầu tư hạ tầng. Những mô hình NTM Đắk Lắk này cho thấy tầm quan trọng của sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, liên tục, đồng bộ từ cấp ủy, chính quyền các cấp, cùng với sự phối hợp của cả hệ thống chính trị.

Bài học rút ra cho Cư Kuin bao gồm việc chú trọng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của Xây dựng Nông thôn mới, đặc biệt là vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư. Ban Chỉ đạo Xây dựng Nông thôn mới cần được kiện toàn thường xuyên, phân công nhiệm vụ rõ ràng, phát huy vai trò người đứng đầu. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt các cấp, đặc biệt là cán bộ cơ sở, là yếu tố không thể thiếu. Mọi quyết định cần dựa trên nguyện vọng chính đáng của người dân, quán triệt sâu sắc nguyên tắc 'dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng' (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 31). Những kinh nghiệm NTM Đắk Lắk này là nền tảng vững chắc để Cư Kuin tiếp tục phát triển bền vững Đắk Lắk trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Đánh giá NTM Đắk Lắk Kết quả đạt được và hạn chế chính

Qua đánh giá NTM Đắk Lắk tại Cư Kuin, chương trình đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hai xã Hòa Hiệp và Ea Ktur đã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới, và một xã đạt 19/19 tiêu chí nhưng chưa công nhận. Các tiêu chí NTM Đắk Lắk về hạ tầng nông thôn Đắk Lắk, kinh tế nông thôn Đắk Lắkvăn hóa xã hội nông thôn Đắk Lắk có sự cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, hạn chế lớn là nguồn lực NTM Đắk Lắk chưa đáp ứng đủ, công tác huy động vốn từ doanh nghiệp còn hạn chế. Nhận thức của một bộ phận cán bộ chưa sâu sắc, công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên. Sự hài lòng của người dân ở một số nơi còn thấp. Các vấn đề về hạ tầng thủy lợi, giao thông và công nghệ sản xuất vẫn còn tồn tại, gây thách thức NTM Đắk Lắk cho việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí.

5.2. Kinh nghiệm NTM Đắk Lắk từ các mô hình thành công

Kinh nghiệm NTM Đắk Lắk từ các huyện Ea H'leo và Ea Kar cung cấp nhiều bài học quý giá. Ea H'leo thành công nhờ đẩy mạnh tuyên truyền, tạo sự đồng thuận và phát huy sức mạnh hệ thống chính trị. Ea Kar chú trọng hỗ trợ phát triển sản xuất cây, con chủ lực và triển khai cơ chế, chính sách NTM Đắk Lắk đồng bộ trong đầu tư hạ tầng, tránh huy động quá sức người dân. Những bài học này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, liên tục; chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức; kiện toàn Ban Chỉ đạo; đào tạo cán bộ nòng cốt; và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư theo nguyên tắc 'dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng' (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 30-31). Đây là những mô hình NTM Đắk Lắk đáng học hỏi.

VI. Định hướng Giải pháp NTM Đắk Lắk Tương lai Nông thôn mới

Để tiếp tục phát triển bền vững Đắk Lắk và hoàn thiện chương trình Xây dựng Nông thôn mới, việc đưa ra các đề xuất NTM Đắk Lắkgiải pháp NTM Đắk Lắk mang tính chiến lược là hết sức cần thiết. Dựa trên những phân tích NTM Đắk Lắkkinh nghiệm NTM Đắk Lắk rút ra từ thực tiễn, luận văn của Nguyễn Viết Hưng (2021) đã đưa ra nhiều khuyến nghị quan trọng, hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống nông dân Đắk Lắk và đạt chuẩn các tiêu chí NTM Đắk Lắk một cách toàn diện.

Một trong những định hướng cốt lõi là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đảm bảo sự chỉ đạo xuyên suốt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách NTM Đắk Lắk và cơ chế huy động nguồn lực NTM Đắk Lắk, đặc biệt là khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế và cộng đồng. Việc xem xét lại các tiêu chí NTM Đắk Lắk để phù hợp hơn với điều kiện đặc thù của vùng Tây Nguyên và từng địa phương trong tỉnh Đắk Lắk cũng là một giải pháp NTM Đắk Lắk quan trọng.

Giải pháp NTM Đắk Lắk cần tập trung vào việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Phát triển các chuỗi giá trị nông sản, tăng cường liên kết sản xuất với thị trường sẽ giúp kinh tế nông thôn Đắk Lắk phát triển bền vững. Đồng thời, cần đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng nông thôn Đắk Lắk như giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để đảm bảo sự đồng bộ và công bằng trong hưởng thụ thành quả Xây dựng Nông thôn mới.

Ngoài ra, việc phát triển văn hóa xã hội nông thôn Đắk Lắk và bảo vệ môi trường nông thôn Đắk Lắk cũng cần được chú trọng. Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, duy trì các bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời tăng cường giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Về môi trường nông thôn Đắk Lắk, cần có các chương trình quản lý rác thải, bảo vệ nguồn nước và sử dụng năng lượng tái tạo, hướng tới một nông thôn xanh – sạch – đẹp. Các mô hình NTM Đắk Lắk tiên tiến về bảo vệ môi trường cần được nhân rộng.

Cuối cùng, việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác Xây dựng Nông thôn mới là yếu tố quyết định. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về quản lý, kỹ năng điều hành và khả năng nắm bắt thực trạng NTM Đắk Lắk. Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ để kịp thời phát hiện và xử lý những bất cập, sai phạm, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả NTM Đắk Lắk của chương trình. Những đề xuất NTM Đắk Lắk này là kim chỉ nam để Chương trình NTM Đắk Lắk đạt được mục tiêu toàn diện, góp phần vào phát triển bền vững Đắk Lắk.

6.1. Đề xuất NTM Đắk Lắk hoàn thiện quản lý và chính sách

Các đề xuất NTM Đắk Lắk tập trung vào hoàn thiện công tác quản lý nhà nước. Thứ nhất, cần tập trung chỉ đạo cụ thể, liên tục, đồng bộ của cấp ủy, chính quyền các cấp. Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể của người dân. Thứ ba, kiện toàn Ban Chỉ đạo Xây dựng Nông thôn mới, phân công nhiệm vụ rõ ràng và phát huy vai trò người đứng đầu. Thứ tư, coi trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt các cấp. Cuối cùng, mọi quyết định phải dựa trên nguyện vọng chính đáng của người dân, thực hiện nguyên tắc 'dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng' (Nguyễn Viết Hưng, 2021, tr. 30-31). Đây là những giải pháp NTM Đắk Lắk cốt lõi để đạt được hiệu quả NTM Đắk Lắk.

6.2. Triển vọng Phát triển bền vững Đắk Lắk trong giai đoạn mới

Triển vọng phát triển bền vững Đắk Lắk trong giai đoạn mới phụ thuộc vào việc thực hiện đồng bộ các giải pháp NTM Đắk Lắk. Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế nông thôn Đắk Lắk, chú trọng tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển các sản phẩm đặc thù có giá trị cao. Tiếp tục đầu tư hạ tầng nông thôn Đắk Lắk theo hướng hiện đại, đồng bộ. Phát triển văn hóa xã hội nông thôn Đắk Lắk, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường nông thôn Đắk Lắk cần được coi trọng. Đặc biệt, việc duy trì sự hài lòng của người dân và sự tham gia tích cực của cộng đồng là chìa khóa để Xây dựng Nông thôn mới Đắk Lắk không chỉ đạt các tiêu chí NTM Đắk Lắk mà còn thực sự mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân.

27/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện cư kuin tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

7 Đồng thời, biểu dƣơng, khen thƣởng những tấm gƣơng điển hình nhằm tạo động lực trong quá trình thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Ea Hleo, tỉnh Đắk Lắk Huyện Ea Hleo là một huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk, tổng diện tích tự nhiên hơn 133.400 ha; dân số hơn 135.700 nhân khẩu, với gần 34.890 hộ, gồm 29 dân tộc anh em cùng sinh sống. Năm 2010, có 11 xã trong toàn huyện chỉ đạt 28 tiêu chí, bình quân mỗi xã đạt 2,5 tiêu chí. Huyện ủy Ea H'leo đã có Nghị quyết số 03-NQ/HU, ngày 15/7/2011 về việc XD NTM giai đoạn 2011- 2015 định hƣớng đến năm 2020.

Sau 10 năm tổ chức thực hiện chƣơng trình MTQG XD NTM, đến nay, huyện Ea H’leo đã có 06/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Toàn huyện đã hoàn thành 171/209 tiêu chí, bình quân đạt 15,54 tiêu chí/xã, tăng 143 tiêu chí so với thời điểm bắt đầu thực hiện Chƣơng trình năm 2010. Qua việc thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Ea H’leo đã rút ra một số kinh nghiệm xây dựng NTM và quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới, cụ thể nhƣ sau: - Thứ nhất, huyện Ea H’leo đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền về mục đích, ý ngh a, chủ thể xây dựng NTM bằng nhiều hình thức đa dạng, khác nhau nhƣ tổ chức hội họp, phát thanh, cổ động và tuyên truyền trực quan, tạo không khí sôi nổi, đồng thuận trong xây dựng NTM. Hƣởng ứng phong trào thi đua “cả nƣớc chung sức xây dựng NTM” phong trào thi đua chung sức xây dựng NTM đƣợc phát động rộng khắp trên địa bàn huyện.

Thông qua đó đã phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sức lan tỏa nhanh, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng NTM. 28 - Thứ hai, quan tâm chỉ đạo thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, đây là yếu tố rất quan trọng quyết định tiến trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện. Từ đó, lãnh, chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả, tổ chức bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên môn, sát thực tế, phối hợp chặt chẽ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện từ huyện đến cơ sở. - Thứ ba, cách làm phải phù hợp với điều kiện của từng địa phƣơng thông qua lựa chọn, sắp xếp nội dung, nhiệm vụ theo thứ tự ƣu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách.

- Thứ tư, tập trung huy động mọi nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. - Thứ năm, củng cố và nâng cao chất lƣợng hệ thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk Huyện Ea Kar là một huyện nằm ở phía Đông tỉnh Đăk Lăk, tổng diện tích tự nhiên hơn 103.747 ha; dân số hơn 154. Thực hiện chƣơng trình nông thôn mới, tính đến cuối năm 2020, toàn huyện đã hoàn thành 236 tiêu chí, bình quân đạt 14,75 tiêu chí/xã, tăng 143 tiêu chí so với thời điểm bắt đầu thực hiện Chƣơng trình năm 2010.

Dự kiến đến năm 2021, toàn huyện sẽ đạt thêm 03 xã, phấn đấu đạt 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Qua việc thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Ea Kar đã rút ra một số kinh nghiệm xây dựng NTM và quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới, cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, các Cấp ủy đảng, chính quyền phải quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện triển khai một cách đồng bộ, nghiêm túc, kịp thời với nhiều 29 biện pháp nội dung phù hợp, sát với thực tế và đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân. Phong trào phải thực sự đi vào đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, huy động đƣợc sức mạnh của toàn dân. Thứ hai, công tác hỗ trợ phát triển sản xuất tạo sự chuyển biến tích cực, tập trung hỗ trợ xây dựng các mô hình phát triển cây, con chủ lực, thế mạnh của địa phƣơng, hạn chế tình trạng phân bổ dàn trải, kém hiệu quả.

Thứ ba, triển khai cơ chế, chính sách đồng bộ trong hỗ trợ đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo đƣợc bƣớc đột phá, thu hút đƣợc một lƣợng lớn nguồn lực của địa phƣơng, nhƣng cũng phải tránh việc đóng góp quá sức của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM. Thứ tư, phải nâng cao nhận thức trong nhân dân về tầm quan trọng của xây dựng NTM, ý thức đƣợc vai trò chủ thể của mình trong việc xây dựng NTM. Đó cũng là nền tảng quan trọng để huyện Ea Kar tiếp tục phát huy tính dân chủ, đoàn kết, huy động mọi nguồn lực, tạo tiền đề vững chắc sớm về đích trong công cuộc xây dựng NTM. Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cho huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Qua nghiên cứu những bài học kinh nghiệm của một số huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới có thể áp dụng ở huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk nhƣ sau: - Thứ nhất, cần có sự tập trung chỉ đạo cụ thể, liên tục, đồng bộ của cấp ủy, chính quyền các cấp, đồng thời huy động đƣợc sự phối hợp tham gia của cả hệ thống chính trị.

- Thứ hai, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân về ý ngh a, tầm quan trọng của công 30 tác XDNTM, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cƣ, nhất là trong việc huy động nguồn lực từ nhân dân. - Thứ ba, Ban Chỉ đạo XDNTM thƣờng xuyên đƣợc quan tâm, kiện toàn; tiến hành xây dựng chƣơng trình và quy chế làm việc, trong đó, phân công nhiệm vụ, địa bàn phụ trách rõ ràng đối với mỗi cá nhân, tập thể, đặc biệt phải phát huy đƣợc vai trò của ngƣời đứng đầu cấp ủy trong tổ chức triển khai. - Thứ tư, cần coi trọng công tác đào tạo đội ngũ nòng cốt các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở. - Thứ năm, mọi quyết định phải dựa trên nguyện vọng chính đáng của ngƣời dân, phát huy tốt nhất vai trò cộng đồng và quán triệt sâu sắc nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hƣởng”.

- Thứ sáu, Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể các cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời kịp thời phát hiện những điển hình tiên tiến để tuyên truyền nhân rộng thành phong trào. Mặt khác, thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát, theo dõi để phát hiện những lệch lạc, sai sót và biểu hiện tiêu cực (nếu có) nhằm ngăn chặn, sữa chữa kịp thời. 31 Tiểu kết chƣơng 1 Tại Chƣơng 1, luận văn đã hệ thống đƣợc một số lý luận cơ bản quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trông đó đi sâu, tập trung làm rõ: Các khái niệm cơ bản về nông thôn, xây dựng nông thôn mới, quản lý, quản lý nhà nƣớc, quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới; Bộ tiêu chí đánh giá xây dựng nông thôn mới; Sự cần thiết quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới; Nội dung quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới; Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới; Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoa Lƣ, tỉnh Ninh Bình và một số huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới có thể áp dụng trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Các kết quả nghiên cứu ở Chƣơng 1 là định hƣớng, cơ sở về lý luân và thực ti n trong thu phập dự liệu để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk trong Chƣơng 2. 32 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƢ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK 2. Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - ã hội hu ện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk 2. Điều kiện tự nhiên Huyện Cƣ Kuin nằm ở phía Nam trung tâm tỉnh Đắk Lắk, trung tâm cách thành phố Buôn Ma Thuột 22 km theo Quốc lộ 27.

Là một huyện đƣợc thành lập theo Nghị định số 137/2007/NĐ-CP, ngày 27 tháng 8 năm 2007 của Thủ tƣớng Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana, có tổng diện tích 28.389 nhân khẩu, với 8 đơn vị hành chính, trung tâm huyện đƣợc quy hoạch ở cạnh Quốc lộ 27 trên địa bàn xã Dray Bhăng [32]. Toàn huyện gồm có 08 đơn vị hành chính cấp xã là xã: Ea Tiêu, Ea Ktur, Ea Bhốk, Hòa Hiệp, Dray Bhăng, Ea Ning, Ea Hu và Cƣ Êwi. Độ cao trung bình 400 - 500m so với mặt nƣớc biển; độ dốc trung bình từ 0 - 80. Đây là vùng địa hình cho ƣu thế phát triển cây công nghiệp dài ngày nhƣ cà phê, cao su, tiêu có năng suất cao.

Trên địa bàn huyện có con sông Krông Ana chảy dọc theo ranh giới phía Nam với dòng chảy bình quân 125 m3/s, đổ vào sông Sêrêpốk, tạo nên vùng bồi đắp có thể khai thác cát xây dựng. Ngoài ra còn có hệ thống suối, ao hồ, kênh phong phú với 42 hồ đập nhƣ: hồ Ea Bông, Ea Ktur, Ea Bhôk, Ea Hu, Ea Sim… cung cấp nguồn nƣớc lớn cho huyện. - Tài nguyên đất: Huyện Cƣ Kuin có diện tích 28.830 ha, trong đó: Đất nông nghiệp có diện tích là 24.122,7 ha, chiếm 83,67% tổng diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp là 4.005,5 ha, chiếm 13,89% tổng diện tích tự nhiên; đất chƣa s dụng 701,9 ha, chiếm 2,43%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ