Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục và đã trở thành một xu hướng trong xác định nội dung của việc giảng dạy trong trường Trung học phổ thông ở nhiều nước trên thế giới. Ý tưởng tích hợp đầu tiên là sự kết nối giữa trường học và xã hội, sự kết nối giữa học tập và thực hành và hình thức giáo dục gắn liền với lao động sản xuất.
Trong những năm 1970 và 1980, UNESCO đã tổ chức các hội thảo về việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giảng dạy của các nước tham gia. Một số nước như Hoa kỳ, Pháp. đã thiết lập một quan điểm tích hợp trong chương trình đào tạo. Theo thống kê của UNESCO, từ những năm 1960 đến 1974 trong 392 dự án được khảo sát, 208 dự án khoa học đã chứng minh các quan điểm tích hợp liên môn kết hợp các chủ đề cụ thể theo các mức độ khác nhau [29].
Trong cuốn "Học đường và Xã hội" được xuất bản năm 1899, J. Dewey đưa ra quan điểm của nhà trường lao động và chỉ ra các nguyên tắc mới của tổ chức giáo dục trường học [30]: tổ hợp (đồng bộ), tích hợp và liên môn, đặt nền móng cho việc định hướng nhân cách của học sinh. Ý tưởng này do Pestalogi đã nghiên cứu trong mối quan hệ giữa giáo dục và lao động trong thập niên 1870 đây là một bước tiến mới. Sau đó, Hội đồng Nhà nước về khoa học Liên Xô, đại diện bởi N.
Crupxkaia (1918) đã phê chuẩn nhiệm vụ "Xây dựng nguyên tắc chung cho trường phổ thông kỹ thuật tổng hợp". Từ đó, nhiều nhà khoa học Liên Xô thực hiện nghiên cứu ý tưởng phát triển liên môn trong lĩnh vực này. Loskareva (1973) đã chỉ ra "quan hệ 4 liên môn thể hiện trong quá trình dạy học phải được hiểu như tính quy luật của hiện thực khách quan, cơ sở triết học và lý thuyết giảng dạy để xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học". Trong quá trình biên soạn khoa học "Quy trình tích hợp trong khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục - dạy học chủ nghĩa cộng sản", xuất bản năm 1983, khái niệm tích hợp được đưa vào giáo dục của Liên Xô.Phormenko (1996), tích hợp là phương pháp hình thành nhân cách và phát triển toàn diện của nhân dân Liên Xô.Phormenko và cộng sự của ông đã thiết lập một phương pháp tích hợp sách giáo khoa vào giáo dục, cung cấp các cách để phân loại chúng, hình thành một khái niệm về các sự kiện tích hợp và cần được tích hợp [10].
Do đó, theo quan điểm của các nhà giáo dục của Liên Xô, dạy học tích hợp về cơ bản là giáo dục lao động, mặt khác là sự hội nhập của giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Ở một số nước trên thế giới, tích hợp là một quan điểm cơ bản về việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa từ bậc giáo dục tiểu học đến bậc Trung học cơ sở và bậc Trung học phổ thông. Theo trình độ học vấn, mức độ mà quan điểm tích hợp dựa trên những đặc điểm riêng của từng nước. Tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
sử dụng quan điểm tích hợp ở mức độ cao từ tiểu học đến Trung học phổ thông. Mức độ tích hợp trên các môn học và đạt đến mức tối đa: nội bộ, liên môn, đa môn [1], [28]. - New Zealand: Chương trình học ở New Zealand chú trọng cung cấp cho học sinh nền tảng để tiếp tục học toán hoặc các lĩnh vực môn học khác và phát triển kỹ năng, khái niệm, kiến thức và sự tự tin sử dụng toán học trong cuộc sống hàng ngày, giúp học sinh có các phương pháp tiếp cận để giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học và phát triển khả năng tư duy, suy luận logic. 5 - Hoa Kỳ: Chương trình giảng dạy toán học ở một số tiểu bang của Hoa Kỳ nhấn mạnh những điểm sau đây.
Giải quyết vấn đề: đọc hiểu và thể hiện toán học trong giao tiếp. Lập luận toán học, mô hình toán học, sử dụng các công cụ toán học tích hợp. Ví dụ, chương trình giảng dạy toán học của Madison Metropolitan. School District (Wicosin State) nhắc tới các năng lực: giải quyết vấn đề, chứng minh và lập luận.
Giao tiếp và tương tác với các môn học và lĩnh vực khác trong toán học, bao gồm về kiến thức, về tư tưởng, về ứng dụng toán học trong thực tiễn và trình bày nội dung toán học. - Pháp: Chương trình giảng dạy toán học không nêu các năng lực toán học một cách rõ ràng, nhưng nhấn mạnh những yếu tố sau đây. Năng lực lập luận, chứng minh, trí tưởng tượng, giải quyết các vấn đề toán học, mô hình toán học, các phương pháp và kỹ năng toán học. Sử dụng ngôn ngữ toán học, đọc hiểu và sử dụng bản vẽ, biểu đồ, sơ đồ và đối số để truyền đạt các phép toán có liên quan và ứng dụng toán học thực tế, khả năng tổ chức và quản lý dữ liệu.
Chương trình cũng đề cập đến việc sử dụng các công cụ toán học vào công nghệ thông tin. - Úc: Chương trình Toán học của Úc được thiết kế để phát triển sự tự tin và sáng tạo của học sinh trong việc áp dụng toán học trong đời sống cá nhân và xã hội. Một số yếu tố được đề cập là kiến thức tri thức, kỹ năng toán học. Giải quyết vấn đề (sử dụng toán học để giải quyết vấn đề, điều tra thiết kế và lập kế hoạch, áp dụng các chiến lược tìm kiếm giải pháp và xác minh tính hợp pháp của câu trả lời).
Đan Mạch, Canada, Quebec thể hiện mục tiêu và mức độ “tích hợp” cao về tiêu chuẩn đầu ra. Một số nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, việc áp dụng các ý tưởng dạy học tích hợp vào quy trình giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục của học sinh đang được quan tâm. 6 Từ những năm 1990 trở lại đây, việc xây dựng chương trình giảng dạy tích hợp với các cấp độ khác nhau đã được tập trung nghiên cứu, kiểm tra và áp dụng cho cấp học. Ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, dạy học tích hợp đã được sử dụng trong một thời gian dài, ban đầu ở mức thấp hơn, nhưng với cách tiếp cận toàn diện từ cải cách giáo dục lần thứ ba (1979) và những thay đổi của chương trình sau năm 2000 thì dạy học tích hợp ở tiểu học được hoàn thiện hơn.
Một cái nhìn toàn diện đã được thể hiện trong chương trình, sách giáo khoa và các hoạt động. Các chủ đề tự nhiên và xã hội của giai đoạn đầu tiên của chương trình cải cách được chia thành 7 chủ đề và hiện đã được giảm xuống còn ba chủ đề chính [23]. Các vấn đề về giáo dục tích hợp và phân hóa đã được phản ánh trong Luật Giáo dục. Mục tiêu giáo dục là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân” [19].
Theo chương trình giáo dục tổng thể, chương trình môn học và hoạt động giảng dạy được tích hợp ở bậc Tiểu học, Trung học cơ sở và phân hóa mạnh ở bậc Trung học phổ thông. Tuy nhiên, ở bậc Trung học phổ thông việc dạy học tích hợp vẫn được thể hiện trong chương trình các môn học đặc biệt của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là nhóm môn học tự chọn. Chương trình được đổi mới một cách cơ bản theo hướng tích hợp các môn học, tạo ra nhiều cơ hội hơn cho việc học nội dung, tăng cường các hoạt động của học sinh để định hướng và phát triển khả năng của học sinh [3]. Trong thực tế, các vấn đề về tích hợp trong phát triển chương trình và sách giáo khoa vẫn còn hạn chế.
Các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông có số lượng lớn các môn học, giáo viên chưa được bồi dưỡng chuẩn bị cho giảng dạy tích hợp, công tác tập huấn và bồi dưỡng không đáp 7 ứng được yêu cầu, việc giảng dạy tích hợp dựa trên khả năng và ý thức tự giác của giáo viên nên chưa có hiệu quả tốt trong việc dạy học tích hợp. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang nghiên cứu xây dựng chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới cũng dựa trên quan điểm tích hợp và quan điểm hệ thống nhằm giảm tải môn học, giảm tải nội dung [2]. Có thể nói, sau khi tìm hiểu lịch sử về tình hình nghiên cứu dạy học tích hợp trong nước và trên thế giới, tác giả nhận thấy sự cần thiết và hiệu quả tích cực của dạy học tích hợp trong dạy học nhằm nâng cao năng lực cho học sinh. Hình thức dạy học tích hợp đang được thực hiện và đạt hiệu quả cao ở nhiều nước trên thế giới.
Ở nước ta có khá nhiều tài liệu về dạy học tích hợp, tuy vậy nhưng chưa có công trình nào xây dựng chủ đề tích hợp về “Hệ thức lượng trong tam giác” có thực nghiệm hiệu quả và đánh giá được sự phát triển năng lực của học sinh. Do đó, việc tìm hiểu về cơ sở lí luận để xây dựng chủ đề tích hợp về “Hệ thức lượng trong tam giác” là rất cần thiết. Dạy học tích hợp 1. Quan niệm về tích hợp và dạy học tích hợp a.
Quan niệm về tích hợp Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh “integration” với nghĩa là : xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo từ điển tiếng Việt [8], tích hợp được hiểu là sự lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ. Theo tác giả Dương Tiến Sỹ [24], tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận về thực tiễn được đề cập trong các môn học đó. 8 Tích hợp có thể hiểu là sự hợp nhất giữa hai loại hình kiến thức và môn học tương ứng [32].
Trên thực tế có thể có nhiều hình thức tích hợp.