Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm theo tiếp cận phát triển năng lực trong trường mầm non. Chương 2: Thực trạng về xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm theo tiếp cận phát triển năng lực tại các trường mầm non, Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Chương 3: Đề xuất biện pháp xây dựng môi trường giáo dục LTLTT theo tiếp cận phát triển năng lực tại các trường mầm non, Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TẠI CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề trên thế giới Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm có tên tiếng Anh là learner- centered approach/ learner centred learning đã xuất hiện trên thế giới từ những năm của thế kỉ XX. Cụm từ này được nhắc tới trong các tài liệu giáo dục ở một số nước có nền giáo dục phát triển, đặc biệt là các nước phương Tây. Tuy nhiên, nguồn gốc của quan điểm dạy học này đã có từ trước đó trong các nghiên cứu của một số nhà Tâm lý học, Triết học và Giáo dục học.
Ngày từ thời cổ đại, nhà triết học cổ đại Hi Lạp Socrate (469-390 TCN) đã từng nói: “Hãy nhận biết bản thân mình” và trong dạy học, với phương pháp đàm thoại ông đã giúp người học phát hiện ra chân lý bằng cách đặt câu hỏi gợi mở để họ dần tìm ra kết luận [Trích theo 32]. Socrate đã nêu giáo viên cần tôn trọng khả năng trí tuệ và cá tính tự do của mỗi người học. Nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực có: Giáo dục và đào tạo theo năng lực của Norton RE (1987) [42], John W Burke (1995) [38], Harris, R. (2001) [41]; thiết kế đào tạo dựa trên năng lực của Shirley Fletcher (1997) [44]; đánh giá giáo dục dựa trên năng lực của Buttram, JL, Kershner, KM, Rioux, S., và Dusewicz, RA (1985) [37]; đào tạo dựa trên năng lực để đạt được kết quả học tập xuất sắc của Argüelles, Antonio và Goncry, Andrew (2000) [35] và Anema, M.
(2010) [34]; kết nối kỹ năng, sử dụng khả năng làm việc với các thuộc tính trong việc phát triển kỹ năng người học cho thập kỷ tới của Blaxell, R. (2012) [36]…Các nghiên cứu trên nêu lên tư tưởng phải quan tâm đến nhu cầu và hứng thú của người học cũng như lợi ích của người học, phát huy tính tích cực của người học. Skinner - cha đẻ của điều khiển học, qua thí nghiệm dạy chim bồ câu tìm kiếm thức ăn và dạy chuột đạp cần câu cơm, ông đã rút ra ba quan niệm lý thuyết 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com [Trích theo 29, tr. Chỉ học cái đang làm; làm là để học.
Hiểu biết tức là hành động có hiệu quả; (ii). Học bằng kinh nghiệm: Trẻ phải được tiếp xúc với môi trường nó đang sống. GV phải cung cấp cho học sinh những cơ hội tích lũy kinh nghiệm bản thân; (iii). Học bằng cách thử sai.
Theo học thuyết của Skinner, dạy học tích cực lấy người học (việc học) là trung tâm thì bài học là vì lợi ích của chính người học; mục đích học, nội dung học là do chính nhu cầu của người học. Ưu điểm của học thuyết này là: người học được tôn trọng, được chủ động trong việc khám phá môi trường học tập, người học học vì nhu cầu, vì lợi ích của bản thân. Mặc dù Skinner chưa đưa ra quan điểm cụ thể về việc dạy học lấy người học làm trung tâm nhưng ông đã đề cao người học, đặt lợi ích, nhu cầu của người học làm mục tiêu của giáo dục, người học được tôn trọng, được chủ động trong quá trình học của mình. Đây chính là những yếu tố cho thấy ông đã hướng vào người học trong quá trình giáo dục.
Tuy nhiên, học thuyết của ông còn nặng về luyện tập những phản xạ có điều kiện và chưa chú ý phát triển khả năng sáng tạo, tư duy linh hoạt cho người học. Bên cạnh đó, vai trò của người thầy cũng còn rất mờ nhạt và tác giả cũng chưa thấy được mối tương tác giữa thầy và trò trong học thuyết của ông. Mặc dù còn những hạn chế, nhưng theo các nhà nghiên cứu tâm lý học thì hành vi tạo tác là cơ sở của đường lối dạy học tích cực, hướng vào người học. Piaget cho rằng việc học là quá trình người học kiến tạo, xây dựng tri thức cho mình bằng cách lựa chọn thông tin phù hợp, giải nghĩa nó dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới [Trích theo 29, tr.
Hoạt động học là quá trình hình thành những cấu trúc trí tuệ mới, là quá trình xây dựng những hình mẫu trí tuệ cho bản thân và là một quá trình tích cực tìm kiếm sự hòa hợp trong tri thức. Bên cạnh đó, việc học là quá trình tự điều chỉnh, là hoạt động siêu nhận thức. Ngoài ra, theo học thuyết này thì những đặc điểm tâm lý bên trong của người học quan trọng hơn những yếu tố tác động từ môi trường. Việc học không phải là một quá trình nhận thức riêng của mỗi cá nhân mà là quá trình mang tính chất xã hội, văn hóa và liên nhân cách.
Hay nói cách khác, yếu tố xã hội và sự hợp tác giữa các cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc học [Trích theo 29, tr17-19]. Học thuyết này cho rằng việc dạy là hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức và hướng dẫn việc học của học sinh; giáo viên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không cung cấp tri thức sẵn có mà hướng dẫn để học sinh tự khám phá tri thức, tự kiến tạo tri thức và thực hiện nhiệm vụ học tập của họ. Như vậy, học sinh mới chính là trung tâm của quá trình dạy- học. Piaget xem trẻ em như là một chủ thể tích cực trong hoạt động nhận thức, nên cần phải coi trẻ em như những nhà thám hiểm hiếu kỳ.
Luận điểm này của Piaget giúp cho các nhà giáo dục có cái nhìn đúng đắn về trẻ em khi tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Học thuyết này đã nhấn mạnh vai trò tích cực của người học, nhấn mạnh vai trò động cơ học tập bên trong, hướng người học đến việc hình thành những động cơ có khả năng thúc đẩy họ học tập suốt đời. Nhà tâm lý học người Nga- L.Vưgôtxki đã nhấn mạnh vai trò của hoạt động văn hóa - xã hội đối với việc học. Hoạt động học là quá trình học sinh tham gia vào các hoạt động văn hóa xã hội được giáo viên tổ chức.
Người học không tự mình khám phá tri thức một cách đơn độc mà là quá trình hợp tác, cùng hoạt động với giáo viên và những học sinh khác. Việc học trong nhà trường là một hoạt động có chủ định, có mục đích nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để hình thành và phát triển năng lực, thay đổi tâm lý người học. Hoạt động học do người học thực hiện dưới sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên, những người có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, có đạo đức và tư cách phù hợp. Một trong những luận điểm quan trọng trong quan điểm của L.Vưgôtxki là dạy học phải đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển.
Quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa dạy học và sự phát triển và lý thuyết về “vùng phát triển gần” là một trong những đóng góp lớn của L.Vưgôtxki với Tâm lý dạy học. Người giáo viên không chỉ cần xác định được mức độ phát triển hiện tại của người học mà còn cần xác định được tiềm năng vùng phát triển của họ để đưa ra nội dung, phương pháp dạy học phù hợp [Trích theo 10, tr. Lý thuyết về “vùng phát triển gần” đã trở thành cột mốc ngăn cách giữa một bên là lối dạy thụ động “theo đuôi sự phát triển” và một bên là lối dạy chủ động “đi trước, đón đầu và dẫn dắt sự phát triển theo chiều hướng tích cực”. Theo học thuyết này, ở mỗi người ai cũng có “vùng phát triển gần”, chỉ khác nhau ở mức độ và tính chất (cao thấp, nhiều ít, nhạy bén hay trơ lỳ), vùng phát triển gần là một nét riêng trong đặc điểm từng cá nhân.
Chính nó quy định sự khác nhau về tư chất giữa người này với người khác, nhất là về năng lực trí tuệ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên thế giới có nhiều mô hình giáo dục LTLTT theo tiếp cận phát triển năng lưc cho trẻ, một trong những phương pháp được cộng đồng quốc tế đánh giá cao là phương pháp Montessori. Phương pháp này đã được áp dụng thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc điểm nổi trội ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập, tự do (trong khuôn khổ cho phép) trong việc hình thành nhân cách trẻ.
Ngoài ra, phương pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, cũng như trang bị đầy đủ cho học sinh các kiến thức khoa học công nghệ tiến bộ và hiện đại [21]. Tổ chức AMI (Hiệp Hội Montessori Quốc tế) và AMS (Hiệp Hội Montessori Mỹ) đã nêu ra đặc trưng của phương pháp học Montessori như sau: (i). Lớp học ghép các lứa tuổi lại với nhau. Thông thường là các trẻ từ 2½ hay 3 tuổi đến 6 tuổi; (ii).
Trẻ tự lựa chọn hoạt động (với điều kiện là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch sắp xếp trước); (iii). Trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá trình “làm việc”; (iv). Trẻ học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng, hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên; (v). Các học cụ giáo dục đặc biệt được Montessori và đồng sự nghiên cứu, sáng tạo và phát triển nên [21].
Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình và thời gian riêng của mình. Do đó, việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessorri phải đảm bảo sự tôn trọng tính riêng biệt của mỗi trẻ và phải bố trí phòng học và bài học phù hợp những nhu cầu và mục đích của mỗi em.