Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 1. Khái niệm tự học 1. Khái niệm tự học Trong thời đại kinh tế tri thức với xu thế toàn cầu hóa, khả năng tư duy của con người trở thành tài sản vô giá. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, mỗi con người cần phải biết tự học suốt đời, rèn luyện khả năng tìm tòi, khám phá và sáng tạo tri thức mới không ngừng.
Tự học là một vấn đề có tính truyền thống và tính phổ biến không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Khổng Tử đã ý thức được tầm quan trọng của việc tự học đối với mỗi con người, ông cho rằng: “cách học quan trọng hơn học cái gì”. Trong lịch sử phát triển ở Việt Nam, hoạt động tự học được chú ý từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tự học.
Người đã từng khuyên phải biết tự động học tập, tìm đủ mọi cách mà học. Theo Người “về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Có nhiều quan niệm về tự học: - Theo Hồ Chủ Tịch, tự học là học một cách tự động, tức là: Học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra, đánh giá việc học của mình. - Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”, [25]. - Theo tác giả Nguyễn Kỳ: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp.Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học.” - Theo Rubakin: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp học. Ông còn đưa ra nguyên tắc của việc tự học là: Hãy làm tất cả những gì có thể là được và hãy cố gắng làm sao có thể làm được và hãy cố gắng làm sao có thể làm được nhiều nhất.
- Theo nghĩa từ điển: “Tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo”, [15]. Trong bài phát biểu tại hội thảo nâng cao chất lượng dạy và học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, thầy Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”. Quá trình tự học là quá trình chủ thể nhận thức biến đổi bản thân để chiếm lĩnh tri thức, dựa vào năng lực, hành động của chính bản thân chứ không nhờ hành động của người khác. Từ những quan điểm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân.
Tri thưc, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy. Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi người học phải tự thân tiếp nhận tri thức theo nhiều nguồn. Tự thân rèn luyện các kĩ năng, tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi lúc, mọi nơi. Tóm lại, tự học là hoạt động của cá nhân người học.
Xác định điều này 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để thấy rõ hơn vai trò chủ động của người học. Dạy học dù có hay đến đâu cũng không thể thay thế được việc tự học của học sinh. Giáo viên giỏi chính là người biết hướng dẫn cho học sinh học chứ không phải làm hộ học sinh. Tự học cũng là công việc khó khăn, phải trải qua nhiều mức độ, nhiều đòi hỏi.
Phấn đấu đạt được mức độ tự học cao nhất là mục tiêu cần đạt tới của người học. Vai trò của tự học Theo Tạp chí Mathematical reviews (Mĩ, 1997), mỗi năm có hơn mười vạn bài nghiên cứu toán học được công bố; nhịp điệu tăng trưởng theo hàm số mũ, cứ mười năm lại tăng lên gấp đôi. Với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ thì việc rèn luyện năng lực tự học được quan tâm ngay từ bậc tiểu học và càng lên cao hơn càng được coi trọng. Đây là cách hữu hiệu để chuẩn bị cho mỗi người có năng lực học tập liên tục, suốt đời.
Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, chuẩn bị cho họ tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống, công tác, lao động trong xã hội 1. Mối quan hệ giữa dạy học và tự học Phương pháp tự học có cơ sở khoa học và thực tiễn.
Theo các nhà tâm lí học: con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu. Hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực. Thực tế cho thấy nếu học sinh chỉ học một cách thụ động, được nhồi nhét kiến thức, không có thói quen suy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng bị lãng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giáo dục đạt kết quả cao nếu quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo, quá trình giáo dục biến thành quá trình tự giáo dục.
Phương pháp dạy học tự học là cách thức tác động của giáo viên vào quá trình tự học của học sinh. Giữa dạy học và tự học tồn tại mối quan hệ biện chứng. Thực chất đó là mối quan hệ giữa ngoại lực và nội lực. Trong đó năng lực tự học của trò chính là nội lực phát triển bản thân người học trò còn sự tác động của thầy, cộng tác lớp học, môi trường xã hội.
đóng vai trò ngoại lực đối với sự phát triển của bản thân người học. Theo quy luật khách quan, nội lực bao giờ cũng là yếu tố giữ vai trò quyết định quá trình phát triển của sự vật. Nhưng điều này không có nghĩa được phủ nhận sạch trơn vai trò của ngoại lực. Cần thấy rằng, ngoại lực cũng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển đó theo chiều hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm.
Chính vì vậy, sự phát triển của sự vật đạt trình độ cao nhất khi nội lực cộng hưởng với ngoại lực. Sự phát triển của bản thân người học cũng không nằm ngoài quy luật trên. Theo đó, nội lực – năng lực tự học là yếu tố quyết định còn ngoại lực – tác động dạy của thầy, của môi trường xã hội sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó. Bởi vậy, muốn bản thân người học phát triển cao nhất thì tác động của người thầy phải “cộng hưởng” với năng lực tự học của trò.
Việc dạy phải đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và yêu cầu phát triển của người học. Điều này có nghĩa: những yêu cầu đặt ra đối với học sinh phải phù hợp với trình độ mà học sinh đạt được ở thời điểm đó, không quá khó để học sinh có thể thực hiện được nhưng không quá dễ để học sinh phải tích cực suy nghĩ, dựa vào những hiểu biết, kinh nghiệm đã có, dựa vào sự hợp tác với bạn, với thầy. mới thực hiện được nhiệm vụ đặt ra, thúc đẩy sự phát triển của bản thân học sinh. Như vậy, việc dạy và tự học có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau cùng hướng đến sự phát triển của bản thân người học.
Mục đích dạy học không phải chỉ ở những kết quả cụ thể của quá trình học tập, ở tri thức và kĩ năng bộ môn mà điều quan trọng hơn là ở bản thân việc học, ở cách 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học, ở khả năng tổ chức và thực hiện những quá trình học tập có hiệu quả. Dạy học cốt lõi là dạy tự học. Mặt khác, học luôn cần có dạy. Việc học chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự tác động hợp lí của việc dạy.
Những kỹ năng cần thiết của người tự học môn toán Để tự học môn toán đạt hiệu quả người học cần phải có những kỹ năng cần thiết sau đây: a. Đào sâu suy nghĩ, lật đi lật lại vấn đề, tìm ví dụ và phản ví dụ, khai thác bài toán, tương tự hóa, đặc biệt hóa, tổng quát hóa bài toán,.Chẳng hạn, tập trung thời gian vào một số bài lí thú, suy nghĩ về đường lối giải bài toán đó, có khi cố gắng đề xuất thêm một vài câu hỏi, cũng có khi mở rộng được bài toán,. Tự mình cố gắng hết sức để giải các bài toán, nếu bài toán có nhiều hướng giải cần suy nghĩ để tìm lời giải hay, mới, độc đáo. Đồng thời, học xong một chủ đề hay một chương nào đó cần phải tự tổng kết các vấn đề.
Chẳng hạn: các câu hỏi phụ của bài toán khảo sát, các phương pháp chứng minh bất đẳng thức, các tính chất của tứ diện,. Biết ghi chép sau khi đọc một tài liệu, một quyển sách, một vấn đề. Khi đọc một bài, một tài liệu nào đó học sinh cần xác định được các mức độ yêu cầu sau đây: Một là, hiểu và nắm vững nội dung đã đọc để vận dụng. Hai là, suy nghĩ, giải thích về những vấn đề đã đọc được.
Ba là, ghi chép lại những nội dung cần ghi nhớ đã đọc được. Bốn là, cần phải xem xét lại những vấn đề đã đọc được và liên hệ vấn đề đó với những vấn đề trước đó để tổng kết, sắp xếp lại thành hệ thống phù hợp với cách học của mình.