phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trƣờng Trung học sơ sở Chƣơng 2: Các biện pháp sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 lớp 9, trƣờng Trung học cơ sở tỉnh Yên Bái. Thực nghiệm sƣ phạm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hoá, với mục tiêu đến năm 2020 trở thành nƣớc công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh đó, đặt ra những yêu cầu mới đối với phẩm chất và năng lực của ngƣời lao động.
Để đáp ứng đƣợc yêu cầu này, cần phải nâng cao chất lƣợng giáo dục. Luật Giáo dục đƣợc nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 25/12/2001 đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tƣởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [18, tr 8]. Từ mục tiêu chung của nền giáo dục; từ mục tiêu cấp học; từ quan điểm, đƣờng lối của Đảng về sử học và giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông – Môn Lịch sử (tháng 5/2006) trong đó có xác định mục tiêu môn Lịch sử nhƣ sau: “Môn Lịch sử ở trƣờng phổ thông nhằm giúp cho học sinh có đƣợc những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hƣơng, đất nƣớc, truyền thống dân tộc, cách mạng; bồi dƣỡng năng lực tƣ duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [6, tr 3]. Vậy để hoàn thành đƣợc mục tiêu trên, ngƣời GV lịch sử cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau: _ Về kiến thức, giúp HS lĩnh hội đƣợc những kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, giúp các em có đƣợc biểu tƣợng chân thật về quá khứ lịch sử bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, nhân vật tiêu biểu, thời gian, không gian, các khái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm, thuật ngữ, những hiểu biết về quan niệm lí luận sơ giản, những vấn đề về phƣơng pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ HS.
Các em không những biết, hiểu lịch sử mà còn phải vận dụng những tri thức lịch sử vào giải quyết các bài tập lịch sử để củng cố tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và các phƣơng pháp tƣ duy, đặc biệt là tƣ duy độc lập sáng tạo. _ Về kỹ năng, giúp HS tiếp tục hoàn thành các kĩ năng cần thiết, cụ thể là: + Bồi dƣỡng tƣ duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, so sánh, liên hệ và rút ra kết luận. + Rèn luyện kĩ năng học tập và thực hành bộ môn nhƣ sử dụng SGK, tài liệu tham khảo, nâng cao năng lực trình bày nói và viết, làm và sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng công nghệ thông tin phục vụ học tập, tổ chức và thực hiện hoạt động nhóm, hoạt động ngoại khóa của môn học. + Vận dụng các kiến thức lịch sử đã học vào cuộc sống hiện tại.
_ Về thái độ, tình cảm, tư tưởng, bồi dƣỡng cho HS: + Lòng yêu quê hƣơng đất nƣớc, có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, noi gƣơng các thế hệ cha anh đi trƣớc, phấn đấu học tập, rèn luyện để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. + Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc; đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ. + Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài ngƣời và dân tộc. + Ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ quốc tế.
+ Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng… Nhƣ vậy, ta thấy bộ môn Lịch sử ở trƣờng phổ thông có vai trò và sứ mệnh vô cùng to lớn. Nó không những cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống cho HS mà còn giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện cho các em. Đây chính là thông qua “dạy chữ để dạy ngƣời”. Muốn làm tốt điều này, ngƣời GV phải thực sự có lƣơng tâm, kiến thức và trách nhiệm; chịu khó đầu tƣ suy nghĩ, không ngừng đổi mới, tìm ra phƣơng pháp dạy học tối ƣu để giúp HS nắm vững kiến thức.
Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử cũng là một biện pháp để góp phần thực hiện mục tiêu môn học đề ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc trưng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông Kiến thức của bộ môn Lịch sử ở trƣờng phổ thông là những hiểu biết của HS về lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời và của dân tộc kể từ khi xã hội loài ngƣời và con ngƣời xuất hiện đến nay đƣợc khoa học Lịch sử xác nhận và ghi chép trong SGK lịch sử mới nhất. Kiến thức đó mang những đặc điểm cơ bản nhƣ sau: Kiến thức lịch sử mang tính tương đối.
Nó đƣợc diễn đạt, trình bày bằng những ngôn ngữ, văn phong khác nhau. Điều ấy có nghĩa là kiến thức lịch sử chỉ có đúng hoặc sai mà không tuyệt đối chính xác. Đặc điểm này mách bảo chúng ta trong việc xác định mức độ kiến thức rồi sử dụng các phƣơng pháp nào cho phù hợp. Nếu mức độ vừa phải thì chỉ cần thông báo cho trò biết, còn nếu ở mức độ cao hơn thì chúng ta phải phân tích, so sánh, đánh giá, liên hệ và rút ra kết luận.
Kiến thức lịch sử mang tính quá khứ. Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loài ngƣời từ lúc con ngƣời và xã hội hình thành đến nay. Tất cả những sự kiện và hiện tƣợng lịch sử đƣợc chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Bởi vậy, chúng ta không thể trực tiếp quan sát đƣợc lịch sử mà chỉ nhận thức chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu đƣợc lƣu lại hoặc dựa vào các hiện tƣợng lịch sử tƣơng tự của cái mới xảy ra hay của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ về những vấn đề lịch sử chúng ta đang nghiên cứu.
Chính vì thế, việc dạy học lịch sử gặp nhiều khó khăn, buộc chúng ta phải tìm đƣợc những phƣơng pháp để khôi phục, tái hiện lại cái lịch sử đã xảy ra. Nhƣng bên cạnh đó, nó cũng có những thuận lợi căn bản, đó là giúp GV bồi dƣỡng và phát triển trí tƣởng tƣợng, tái tạo của HS. Kiến thức lịch sử mang tính không lặp lại. Mỗi sự kiện, hiện tƣợng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định.
Không có một sự kiện, hiện tƣợng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau dù chúng có điểm giống nhau mà chỉ là sự kế thừa, phát triển. Trong một cấp học, HS chỉ đƣợc học một lần duy nhất về một kiến thức lịch sử, những kiến thức đó lần sau không lặp lại nữa. Điều đó gây khó khăn nhất định cho chúng ta trong dạy học. Kiến thức càng ngày càng nhiều lên mà lại không đƣợc củng cố một cách tự nhiên cho nên HS rất dễ quên và nhầm lẫn kiến thức.
Chính điều này buộc các nhà giảng dạy lịch sử phải chú ý đến các phƣơng pháp để củng cố giúp HS ghi nhớ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kiến thức lịch sử mang tính cụ thể. Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nƣớc, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Lịch sử mỗi nƣớc, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định.
Nó luôn luôn gắn liền với một thời gian, một địa điểm, một nhân vật, một diễn biến, một kết quả cụ thể. Điều này lƣu ý chúng ta trong dạy học phải sử dụng các phƣơng pháp đảm bảo tính cụ thể, tính hình ảnh, tính sinh động của kiến thức lịch sử. Kiến thức lịch sử cơ bản trình bày càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu, giàu hình ảnh bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Kiến thức lịch sử mang tính hệ thống (tính lôgic lịch sử).
Nội dung tri thức lịch sử rất phong phú bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nghệ thuật, khoa học kĩ thuật…. Kiến thức lịch sử không tự nhiên xuất hiện, tự nhiên mất đi và cũng không có những kiến thức, sự kiện lịch sử nào là đơn độc mà chúng liên kết chặt chẽ, có mối đan xen phức tạp với nhau. Một sự kiện hiện tƣợng mất đi là nguyên nhân xuất hiện sự kiện mới. Điều này đòi hỏi ngƣời GV phải luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trƣớc sau của các vấn đề lịch sử cũng nhƣ mối quan hệ ngang, nội tại của chúng để từ đó lựa chọn các phƣơng pháp hệ thống hóa kiến thức cho HS, giúp các em có cái nhìn lôgic.
Nhờ vậy HS mới thích, mới hiểu lịch sử. Kiến thức lịch sử có sự thống nhất giữa sử và luận. Các sự kiện, hiện tƣợng lịch sử chỉ diễn ra một lần duy nhất, không lặp lại thế nhƣng những ghi chép về nó lại có rất nhiều. Tuy nhiên, lý luận lịch sử cũng nhƣ quan điểm lịch sử trƣớc khi có chủ nghĩa Mác, về cơ bản xuất phát từ lập trƣờng bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột.
Khi chủ nghĩa Mác ra đời, sử học mới bắt đầu trở thành một khoa học thực sự, chân chính. Vậy, việc nghiên cứu và dạy học lịch sử cần dựa vững chắc vào những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.